Việc tập trung lực lượng quân sự Mỹ xung quanh Iran đã đạt tới mức chưa từng thấy kể từ năm 2003 đã gợi lên những so sánh trường hợp của Iran với Iraq, nhất là khi mức độ sẵn sàng như hiện nay không thể được duy trì vô thời hạn nếu không có quyết định sử dụng vũ lực.

Tuy nhiên, theo báo The Kyiv Post của Ukraine chiều 21/2, những so sánh như vậy có thể gây hiểu lầm nếu không xét đến sự khác biệt về cấu trúc và mục đích của lực lượng được triển khai.
Theo The Kyiv Post, năm 2003, việc triển khai quân sự rõ ràng nhằm vào một cuộc tấn công trên bộ vào Iraq, lật đổ nhanh chóng chế độ Saddam Hussein và kiểm soát toàn bộ lãnh thổ.
Trong khi đó, việc triển khai lực lượng hiện nay quanh Iran không mang chỉ dấu như vậy và không có dấu hiệu nào cho thấy sự chuẩn bị cho một chiến dịch trên bộ quy mô lớn.
Thay vào đó, một tổ hợp năng lực hải quân và không quân đã được tập hợp để tiến hành một chiến dịch tấn công cường độ cao nhưng có giới hạn, được thiết kế để kéo dài, lặp đi lặp lại, và vẫn vận hành ngay cả khi phải đối mặt với những phản ững liên tục từ Iran.
Kiểm soát nhịp độ trong logic quân sự đã được thiết lập sẵn
Cách triển khai lực lượng như vậy làm thay đổi cách thức tiến hành và kiểm soát xung đột, cho phép quyết định sử dụng vũ lực được chia thành nhiều giai đoạn, cường độ tấn công được điều chỉnh theo tín hiệu chính trị và phản ứng của đối phương, đồng thời giữ leo thang dưới sự kiểm soát dân sự thường xuyên.
Thay vì một điểm bùng phát duy nhất, có thể đưa ra một loạt quyết định nhỏ, có thể leo thang, tạm dừng hoặc chấm dứt mà không làm mất thế chủ động quân sự.
Chính khả năng kiểm soát nhịp độ này khiến việc triển khai hiện nay trở nên nguy hiểm và bất ổn hơn, vì nó kéo dài trạng thái căng thẳng thường trực và làm gia tăng nguy cơ tính toán sai lầm từ cả hai phía.
Một cấu trúc như vậy không thể được duy trì ở mức sẵn sàng cao nếu không có đánh giá thực tế rằng nó sẽ được sử dụng.
Sự hiện diện của hai tàu sân bay cùng đầy đủ biên đội tác chiến, nhiều tàu khu trục được trang bị hệ thống phòng không và phòng thủ tên lửa, cùng một tàu ngầm mang tên lửa hành trình, tạo thành một lực lượng không phải chỉ để phô trương sức mạnh tạm thời.
Đây là một cấu hình chiến đấu có khả năng khởi động và duy trì các chiến dịch trong nhiều tuần, ngay cả khi bị đối phương tấn công.
Một cấu trúc như vậy không được duy trì ở mức sẵn sàng cao nếu không có đánh giá thực tế rằng nó sẽ được sử dụng, trừ khi có một quyết định rút lui muộn màng và phải trả giá chính trị lớn.
Ở khía cạnh này, logic quân sự đã được thiết lập và điều còn bỏ ngỏ là thời điểm đưa ra quyết định về mặt chính trị.

Tàu sân bay đóng vai trò tác chiến trung tâm
Thành phần hải quân của đợt triển khai đóng vai trò tác chiến trung tâm.
Tàu sân bay không chỉ hiện diện để phô trương sức mạnh mà còn đóng vai trò là các căn cứ không quân cơ động, cho phép thực hiện các phi vụ chiến đấu liên tục mà không phụ thuộc vào các sân bay trên bộ trong khu vực.
Mục đích của chúng không phải là một đòn đánh đơn lẻ, mà là duy trì tính liên tục của các hoạt động trong thời gian dài.
Với các tàu khu trục - cung cấp khả năng tấn công tên lửa vào mục tiêu trên bộ và bảo vệ phòng không cho hạm đội - năng lực tiến hành các đợt tấn công lặp lại và chế áp hệ thống phòng thủ của đối phương đã được thiết lập.
Việc triển khai lực lượng này được thiết kế để tiến hành các hoạt động tác chiến trong thời gian kéo dài, chứ không phải một màn thị uy ngắn hạn và có giới hạn.
Tàu ngầm càng làm phức tạp hơn các tính toán của đối phương. Sự hiện diện của chúng tạo ra sự bất định thường trực về hướng và thời điểm tấn công, mở rộng phổ lựa chọn hành động, và buộc đối phương phải phân bổ nguồn lực theo hướng phòng thủ.
Nhìn tổng thể, việc triển khai lực lượng này nhằm phục vụ các chiến dịch tác chiến kéo dài, chứ không phải một cuộc phô diễn sức mạnh chớp nhoáng.
Yêu cầu tác chiến nhìn từ việc bố trí lực lượng không quân trong khu vực
Việc bố trí lực lượng không quân trong khu vực phản ánh rõ các yêu cầu tác chiến.
Các căn cứ tại vùng Vịnh và khu vực rộng hơn được lựa chọn để cho phép thực hiện các phi vụ chiến đấu liên tục, tăng viện nhanh chóng, và duy trì hoạt động ngay cả khi bị đối phương tấn công.
Cách triển khai này cho phép tiến hành các đòn tấn công sâu, trinh sát liên tục, các cuộc tấn công lặp lại, và bảo vệ căn cứ cũng như không phận của chính mình.
Sức mạnh của nó không nằm ở từng máy bay riêng lẻ, mà ở khả năng tiến hành hoạt động liên tục với sự phân công nhiệm vụ rõ ràng và khả năng chỉ huy, kiểm soát, phối hợp tin cậy từ các trung tâm chỉ huy.
Đây là một hệ thống vừa quan sát, vừa tấn công, vừa phòng thủ và thích ứng đồng thời.
Những hành động ban đầu sẽ tập trung vào việc vô hiệu hóa các hệ thống quan sát và chỉ huy, tạo điều kiện cho các đòn đánh chính xác vào những mục tiêu then chốt sâu trong lãnh thổ.
Các bước tiếp theo sẽ được lặp lại nhằm làm suy giảm vĩnh viễn năng lực quân sự, thay vì cố gắng tiêu diệt hoàn toàn chúng chỉ trong một đòn tấn công duy nhất.
Trong suốt quá trình, việc duy trì ưu thế trên không và bảo vệ các căn cứ cũng như lực lượng hải quân sẽ luôn là ưu tiên thường trực.

Trạng thái bất định thường xuyên
Iran không phải là một bên tham gia thụ động trong khuôn khổ này.
Phản ứng của Iran không dựa vào việc đối đầu trực diện với sức mạnh quân sự Mỹ theo cách truyền thống, mà dựa trên việc gây sức ép thông qua các đòn tấn công quy mô lớn và bất đối xứng.
Chiến lược tên lửa của Iran sử dụng hỗn hợp nhiều loại tên lửa và thiết bị bay không người lái (UAV), nhằm làm quá tải hệ thống phòng không, làm cạn kiệt kho tên lửa đánh chặn nhanh hơn khả năng bổ sung, và giữ đối phương trong trạng thái bất định liên tục.
Rủi ro lớn nhất đối với phía Mỹ không phải là một đòn tấn công thành công đơn lẻ, mà là một loạt các đòn tấn công cường độ hạn chế, lặp đi lặp lại và phân tán khắp khu vực.
Các căn cứ cố định quy mô lớn, trung tâm hậu cần và các tuyến hàng hải đặc biệt dễ bị tổn thương. Eo biển Hormuz đóng vai trò trung tâm trong bối cảnh này.
Iran không cần phải phong tỏa hoàn toàn eo biển này để gây tác động đáng kể; chỉ cần khiến nó trở nên không an toàn là đủ. Chỉ riêng nhận thức về rủi ro cũng đã làm tăng chi phí bảo hiểm, làm chậm vận tải biển và đưa sự bất ổn vào các thị trường năng lượng.
Thời điểm chính trị của quyết định
Do đó, các khía cạnh quân sự và kinh tế của cuộc khủng hoảng này không thể được xem xét một cách tách biệt.
Việc kéo dài xung đột làm gia tăng khả năng các thị trường sẽ bắt đầu “tiêu hoá từ trong nước” sự biến động dài hạn của giá năng lượng và chi phí vận tải.
Ngay cả những thiệt hại vật chất có giới hạn cũng có thể gây tác động toàn cầu không tương xứng nếu khu vực bị nhìn nhận là đang bước vào giai đoạn bất ổn và khủng hoảng thường trực.
Tình hình này không thể được hiểu đúng nếu chỉ nhìn vào tỷ lệ so sánh năng lực quân sự.
Lực lượng Mỹ đã được triển khai sẵn sàng để hành động nhanh chóng mà không cần thêm chuẩn bị hay thay đổi rõ rệt nào trên thực địa.
Việc không có dấu hiệu của một chiến dịch trên bộ không có nghĩa là phương án sử dụng vũ lực đã bị loại bỏ; trái lại, nó cho thấy một hình thức chiến tranh từ xa, thông qua các đòn không kích và hải kích, đã được lựa chọn.
Vì vậy, câu hỏi then chốt không còn là liệu quân đội Mỹ có đủ năng lực để tiến hành một chiến dịch như vậy hay không. Điều đó không còn là vấn đề.
Những câu hỏi còn bỏ ngỏ là thời điểm của quyết định chính trị, phạm vi của các đòn tấn công có thể xảy ra, và đánh giá liệu rủi ro leo thang rộng hơn cùng các hệ quả kinh tế có thể chấp nhận được so với mục tiêu của Washington hay không.
Ở thời điểm hiện tại, bản thân việc phân bố lực lượng đã để lại rất ít chỗ cho những cách diễn giải khác. Mức độ sẵn sàng này không thể được duy trì vô thời hạn nếu không có quyết định sử dụng vũ lực.
Thành Nam/Báo Tin tức và Dân tộc




In bài viết