BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TOÀN CẦU: TÁC ĐỘNG ĐA CHIỀU CỦA ĐỢT "SIÊU EL NINO" (2026 - 2027) VÀ CHIẾN LƯỢC ỨNG PHÓ CỦA VIỆT NAM

Thế giới đang đứng trước ngưỡng cửa của một cuộc khủng hoảng đa tầng khi hiện tượng thời tiết cực đoan El Nino quay trở lại với cường độ mạnh và chu kỳ kéo dài dị thường đến năm 2027. Không dừng lại ở một hiện tượng khí tượng thuần túy, đợt "Siêu El Nino" này hoạt động như một xung lực tiêu cực làm đứt gãy chuỗi cung ứng, tái định hình cấu trúc chi phí năng lượng và đe dọa trực tiếp đến an ninh lương thực toàn cầu. Bài nghiên cứu tiến hành giải phẫu cơ chế tác động chuyển tiếp của El Nino sản sinh các hệ lụy kinh tế vĩ mô, từ đó đưa ra các dự báo khoa học đặc thù tại Việt Nam và đề xuất hệ thống giải pháp ứng phó mang tính chủ động, thích ứng chiến lược.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ CHẾ TÁC ĐỘNG DỊCH CHUYỂN CỦA EL NINO SANG KINH TẾ VĨ MÔ

Chú thích ảnh
Nhà máy điện hạt nhân của Pháp ở Dampierre-en-Burly. Ảnh minh họa: AFP/TTXVN

Về mặt khoa học khí tượng, El Nino là hiện tượng lớp nước biển bề mặt ở khu vực xích đạo Thái Bình Dương nóng lên dị thường. Tuy nhiên, dưới lăng kính kinh tế học hiện đại, El Nino là một “cú sốc cung” (supply shock) mang tính hệ thống. Dữ liệu từ Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) và các tổ chức tài chính uy tín như Ngân hàng Commerzbank chỉ ra rằng, xác suất xuất hiện và duy trì cường độ cao của El Nino trong giai đoạn này lên tới 80 - 90%.

Cơ chế dịch chuyển tác động từ biến động tự nhiên sang suy thoái kinh tế được vận hành một cách tuần tự và chặt chẽ qua ba mạch cốt lõi:

Thứ nhất, xuất phát điểm của toàn bộ chuỗi hệ lụy vĩ mô bắt đầu từ hiện tượng nhiệt độ bề mặt nước biển tăng lên một cách dị thường. Sự thay đổi đột ngột này của nhiệt lực đại dương lập tức tác động mạnh mẽ lên tầng khí quyển, từ đó trực tiếp kích hoạt các sự cố khí tượng nguy hiểm mang tính cực đoan, đặc biệt là trạng thái hạn hán gay gắt diện rộng hoặc các đợt mưa lũ, bão tấy có cường độ phá hoại lớn.

Thứ hai, các hình thái thời tiết cực đoan này đánh trực diện vào hệ thống sản xuất sơ cấp của nền kinh tế toàn cầu, gây ra sự đứt gãy nghiêm trọng và đồng thời trên cả ba lĩnh vực nền tảng bao gồm năng lượng (sụt giảm sản lượng thủy điện, điện hạt nhân), khoáng sản (tê liệt các mỏ khai thác lộ thiên) và nông nghiệp (suy giảm nghiêm trọng năng suất cây trồng chủ lực).

Thứ ba, sự khan hiếm nguồn cung thô tại gốc này nhanh chóng chuyển tiếp vào thị trường tài chính, tạo nên các cuộc khủng hoảng giá hàng hóa trên các sàn giao dịch lớn và ngay lập tức lan tỏa thành làn sóng lạm phát chi phí đẩy trên quy mô toàn cầu.

Sự dịch chuyển mang tính chuỗi này tạo ra một "hiệu ứng Domino" liên hoàn và không thể đảo ngược nếu các quốc gia tiếp tục duy trì mô hình quản trị rủi ro theo trạng thái bị động, ứng phó sự vụ. Khi các mắt xích này lần lượt đổ vỡ, cái giá phải trả của mỗi quốc gia không chỉ đơn thuần được tính toán bằng phần trăm tăng trưởng GDP tổn thất về mặt kinh tế, mà nguy hiểm hơn, đó là sự bất ổn định và rạn nứt sâu sắc của toàn bộ hệ sinh thái an sinh xã hội.

KHỦNG HOẢNG NĂNG LƯỢNG KÉP VÀ NGHẼN MẠCH LOGISTICS CÔNG NGHIỆP

El Nino tấn công trực diện vào hai yếu tố nền tảng của nền công nghiệp toàn cầu là năng lượng đầu vào và mạch máu giao thương.

Về phương diện căng thẳng cung - cầu năng lượng, hạn hán kéo dài làm suy giảm nghiêm trọng sản lượng của các nhà máy thủy điện do thiếu hụt dòng chảy. Đồng thời, nền nhiệt không khí tăng cao làm tăng nhiệt độ của các nguồn nước sông dùng làm mát, buộc các nhà máy điện hạt nhân như hệ thống tại Pháp phải chủ động giảm hoặc dừng công suất để đảm bảo an toàn kỹ thuật. Ở chiều ngược lại, cầu về năng lượng cho mục đích làm mát tăng đột biến theo hàm số mũ của nhiệt độ. Sự lệch pha kép này buộc các nền kinh tế phải quay lại sử dụng các nguồn năng lượng hóa thạch truyền thống như than đá hay khí hóa lỏng LNG, đẩy mặt bằng giá năng lượng sơ cấp toàn cầu đi lên, kích hoạt vòng xoáy lạm phát chi phí đẩy.

Về phương diện chuỗi cung ứng kim loại và logistics thủy nội địa, El Nino tạo ra những tổn thất cục bộ vô cùng nặng nề. Đối với ngành kim loại công nghiệp, Trung Quốc vốn là quốc gia chiếm khoảng 60% sản lượng nhôm mới thế giới thường xuyên phải đối mặt với tình trạng các cơ sở luyện nhôm phải cắt giảm sản lượng do thiếu điện từ thủy điện. Tại Nam Mỹ, hai quốc gia nắm giữ huyết mạch nguồn cung đồng thế giới là Chile và Peru lại đối mặt với nguy cơ mưa lớn, lũ lụt làm sạt lở và tê liệt các mỏ khai thác lộ thiên. Song song đó, mực nước tại các dòng sông giao thương chiến lược như sông Rhein tại Đức hay kênh đào Panama xuống thấp kỷ lục làm sụt giảm nghiêm trọng năng lực tải trọng của tàu bè, gây nghẽn mạch logistics vĩ mô và đẩy chi phí vận tải thô lên mức cao.

TỔN THƯƠNG AN NINH LƯƠNG THỰC VÀ HIỆU ỨNG "AGFLATION"

Nông nghiệp là ngành kinh tế có độ nhạy cảm cao nhất và chịu tổn thương trực tiếp nhất từ các hình thái thời tiết cực đoan do hiện tượng El Nino khuếch đại.

Trước hết là sự suy giảm năng suất cây trồng chiến lược trên phạm vi rộng. Hiện tượng El Nino làm thay đổi sâu sắc bản đồ phân bố lượng mưa toàn cầu. Khu vực Đông Nam Á, Úc và Ấn Độ phải hứng chịu những đợt khô hạn khốc liệt, làm suy giảm nghiêm trọng sản lượng các cây trồng chủ lực như lúa gạo, lúa mì, đường và cà phê. Sự khan hiếm nguồn cung thực tế này trở thành bệ phóng đẩy giá nông sản tăng vọt trên các sàn giao dịch hàng hóa lớn.

Hệ quả trực tiếp của chuỗi đứt gãy này là hiệu ứng lạm phát lương thực (Agflation) và các rủi ro bảo hộ kèm theo. Khi giá các mặt hàng nông sản cơ bản vượt ngưỡng kiểm soát, các quốc gia có xu hướng kích hoạt chính sách bảo hộ lương thực bằng cách cấm hoặc hạn chế xuất khẩu để tích trữ nội địa. Hành vi phòng vệ này vô tình tạo ra một cú sốc cung thứ cấp trên thị trường quốc tế, đẩy các quốc gia nghèo, phụ thuộc vào nhập khẩu lương thực vào cuộc khủng hoảng nhân đạo, đồng thời làm xói mòn các nỗ lực kiểm soát lạm phát của các Ngân hàng Trung ương.

DỰ BÁO

 (Hệ thống dự báo khoa học về các hình thái thời tiết cực đoan tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2027 được trình bày dưới đây là kết quả từ quá trình tổng hợp, phân tích dữ liệu vĩ mô và hoàn toàn đại diện cho quan điểm nghiên cứu riêng biệt của cá nhân tác giả).

Dưới tác động tổng hòa của biến đổi khí hậu toàn cầu và sự khuếch đại của El Nino, Việt Nam được dự báo sẽ đối mặt với bốn kịch bản thời tiết cực đoan mang tính cực hạn trong giai đoạn 2026 - 2027.

Thứ nhất, ghi nhận sự dị thường về nhiệt độ và các đỉnh lũ nhiệt. Nền nhiệt trung bình trên phạm vi toàn quốc có xu hướng cao hơn trung bình nhiều năm từ 1,5 đến 2,5 độ C. Số ngày nắng nóng gay gắt và đặc biệt gay gắt tại Bắc Bộ và Trung Bộ sẽ tăng mạnh, đẩy hệ thống phụ tải điện quốc gia vào trạng thái cực hạn.

Thứ hai, tình trạng khô hạn và xâm nhập mặn sẽ lấn sâu tại vựa nông nghiệp miền Nam. Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên sẽ trải qua những mùa khô hạn khốc liệt. Ranh mặn 4g/l có khả năng xâm nhập sâu vào nội đồng từ 80 đến 100km, làm đảo lộn cấu trúc thổ nhưỡng và hệ thống canh tác nông nghiệp truyền thống.

Thứ ba, xảy ra sự suy kiệt dòng chảy thủy điện Bắc Bộ. Lưu lượng nước về các hồ thủy điện lớn trên lưu vực sông Hồng dự báo thiếu hụt từ 30 đến 40% so với quy luật tự nhiên, làm giảm đáng kể sản lượng điện nền khả dụng.

Thứ tư, xuất hiện bão lũ dị hình chu kỳ cuối năm. Do sự tích lũy năng lượng nhiệt độ cao trên bề mặt biển, giai đoạn từ tháng 10 đến tháng 12 có xác suất cao xuất hiện các cơn bão có quỹ đạo dị thường, trái quy luật, đổ bộ tập trung vào khu vực Trung Bộ và Nam Bộ với cường độ phá hoại lớn, gây lũ quét dồn dập trên các địa hình có cấu trúc địa chất đã bị tổn thương do khô hạn trước đó.

 HỆ THỐNG GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ CỦA VIỆT NAM

Để hiện thực hóa quan điểm "Môi trường là trung tâm của các quyết định phát triển" theo tinh thần định hướng phát triển vĩ mô, Việt Nam cần chuyển đổi toàn diện mô hình từ phản ứng với thiên tai sang quản trị chủ động rủi ro khí hậu thông qua bốn nhóm giải pháp đồng bộ.

Một là, tối ưu hóa cấu trúc an ninh năng lượng quốc gia. Các tập đoàn năng lượng nhà nước phải lập kế hoạch tích nước sớm tại các hồ chứa chiến lược từ cuối mùa mưa trước, đồng thời chủ động tăng tỷ trọng nhập khẩu than và LNG để đảm bảo nguồn điện nền thay thế lượng thủy điện thiếu hụt. Thực thi nghiêm túc cơ chế quản lý nhu cầu điện (DR), dịch chuyển giờ sản xuất công nghiệp ra khỏi khung cao điểm. Đột phá thể chế để giải phóng nguồn lực cho điện mặt trời áp mái tự sản tự tiêu nhằm giảm áp lực tức thời cho hệ thống lưới điện trong các ngày nắng nóng đỉnh điểm.

Hai là, định hình lại kiến trúc nông nghiệp thích ứng bền vững. Thay đổi tư duy từ "thuần lúa" sang mô hình "Lúa - Tôm" hoặc canh tác các loại cây trồng chịu mặn, chịu hạn tại vùng tổn thương. Linh hoạt chuyển đổi lịch thời vụ dựa trên các kịch bản dự báo nguồn nước. Song song đó, tiến hành số hóa quản trị tài nguyên nước bằng cách xây dựng hệ thống cảm biến IOT đo độ mặn và mực nước tự động theo thời gian thực tại các hệ thống sông chính, liên thông dữ liệu trực tiếp đến người dân và các nhà quản lý để chủ động điều tiết hệ thống thủy lợi ngăn mặn, trữ ngọt.

Ba là, sử dụng công cụ tài chính và dự phòng vĩ mô để bình ổn thị trường. Nâng định mức dự trữ quốc gia đối với các mặt hàng thiết yếu như xăng dầu, lương thực cốt lõi, vật tư y tế để sẵn sàng can thiệp thị trường khi có cú sốc cung. Khuyến khích và đào tạo cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu quy mô lớn ứng dụng các công cụ phái sinh hàng hóa như hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn trên các sàn giao dịch hàng hóa quốc tế nhằm cố định chi phí nguyên liệu đầu vào, triệt tiêu rủi ro biến động giá do thiên tai gây ra.

Bốn là, hiện đại hóa năng lực dự báo bằng Trí tuệ nhân tạo (AI). Đầu tư nâng cấp hạ tầng công nghệ của ngành khí tượng thủy văn bằng các mô hình dự báo thời tiết dựa trên dữ liệu lớn (Big Data) và trí tuệ nhân tạo (AI-driven). Kéo dài thời gian cảnh báo sớm thiên tai, lũ quét, bão dị hình trước từ 3 đến 5 ngày để tối ưu hóa công tác di dời, bảo vệ tài sản nhân dân, đồng thời cá thể hóa trách nhiệm của người đứng đầu chính quyền địa phương trong việc thực thi các kịch bản phòng chống khẩn cấp.

KẾT LUẬN

Đợt "Siêu El Nino" giai đoạn 2026 - 2027 là một bài kiểm tra khắc nghiệt đối với năng lực quản trị quốc gia và độ chống chịu của nền kinh tế Việt Nam. Bằng việc nhận diện sớm các nguy cơ, luận chứng khoa học các kịch bản và thực thi quyết liệt các giải pháp mang tính cấu trúc – đặc biệt là việc áp dụng công nghệ số và công cụ tài chính hiện đại – Việt Nam không chỉ có thể bảo vệ vững chắc an ninh năng lượng, an ninh lương thực trong nước mà còn khẳng định vị thế của một nền kinh tế xanh, thích ứng bền vững và chủ động trước các biến động toàn cầu.

 

ThS. Nguyễn Mạnh Hiền, UVBCH Hội đồng Hòa bình và Phát triển Việt Nam

Nguồn: Tổng hợp từ dữ liệu dự báo của Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO), Ngân hàng Commerzbank (Đức), Tập đoàn tái bảo hiểm Munich Re và Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia Việt Nam.