TỰ CHỦ CHIẾN LƯỢC - ĐIỂM MỚI ĐỘT PHÁ TRONG TƯ DUY CỦA ĐẢNG TẠI ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIV

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV xác định tự chủ chiến lược là nguyên tắc nền tảng, xuyên suốt, chi phối toàn bộ quá trình hoạch định và triển khai đường lối phát triển và bảo vệ Tổ quốc. Bài viết phân tích bước chuyển quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng về vấn đề tự chủ chiến lược trên các khía cạnh: Tự chủ chiến lược là bước phát triển mới của tư duy độc lập, tự chủ; tự chủ chiến lược thể hiện tư duy bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”; kết hợp chặt chẽ các trụ cột quốc phòng - an ninh - đối ngoại; nhận thức về an ninh mở rộng và đa chiều (an ninh phi truyền thống và không gian mới); nâng tầm đối ngoại: từ tham gia sang định hình; gắn phát triển với bảo vệ Tổ quốc trong một chỉnh thể thống nhất.

 

Mở đầu

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã xác định tư duy, tầm nhìn, những quyết sách chiến lược để nước ta vững bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Trong bối cảnh thế giới biến động hết sức phức tạp, khó lường, các nước lớn cạnh tranh gay gắt, sự phân mảnh và biến động địa chính trị ngày càng sâu sắc, Đại hội nhấn mạnh: “Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững đất nước; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống Nhân dân; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin tiến mạnh vào kỷ nguyên mới của dân tộc;….”(1). Đại hội Đảng lần thứ XIV đã nâng tự chủ chiến lược lên thành một nguyên tắc mang tính định hướng xuyên suốt trong hoạch định và triển khai đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chuyển từ tự chủ để tồn tại sang tự chủ để kiến tạo, nhấn mạnh tính chủ động, năng lực tự định hình và khả năng thích ứng chiến lược trong bối cảnh cạnh tranh và biến động toàn cầu ngày càng phức tạp, đánh dấu bước phát triển từ “độc lập, tự chủ” mang tính phòng vệ sang chủ động định hình môi trường chiến lược.

Tại phiên bế mạc Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “Một đất nước muốn tăng trưởng nhanh, thu hút đầu tư lớn, mở rộng thị trường, và hội nhập sâu rộng thì trước hết phải là một quốc gia có tự chủ chiến lược, có năng lực kiểm soát rủi ro, có thể chế vững, có trật tự xã hội ổn định, có sự hội nhập quốc tế sâu rộng, có sức đề kháng cao trước các cú sốc an ninh truyền thống và phi truyền thống”(2). Tinh thần xuyên suốt của nhiệm kỳ Đại hội XIV là: “Tự chủ chiến lược, nắm chắc thời cơ, chung sức đồng lòng, vượt qua mọi thách thức, khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển; biến ý chí thành hành động, biến quyết sách thành kết quả cụ thể; nói là làm, làm ngay, làm đúng, làm quyết liệt, làm đến cùng và làm hiệu quả”(3). Quan điểm tự chủ chiến lược là điểm mới đột phá trong tư duy của Đảng, thể hiện ở những điểm sau:

Một là, tự chủ chiến lược là bước phát triển mới của tư duy độc lập, tự chủ

Trong nhiều kỳ Đại hội, Đảng ta luôn nhất quán quan điểm “giữ vững độc lập, tự chủ”, coi đó là nguyên tắc bất biến trong hoạch định đường lối phát triển đất nước. Tại Đại hội XIV của Đảng, quan điểm này được nâng lên tầm cao mới: tự chủ chiến lược. Tư duy tự chủ chiến lược được nhấn mạnh như một định hướng cốt lõi, chuyển từ “độc lập, tự chủ” mang tính phòng vệ sang chủ động định hình môi trường chiến lược, nhằm tạo thế chủ động, tăng khả năng thích ứng và giảm phụ thuộc trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn. Tự chủ chiến lược không chỉ là một yêu cầu mang tính phương châm, mà được nâng lên thành nguyên tắc chỉ đạo xuyên suốt trong hoạch định và triển khai đường lối quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Điểm đột phá nằm ở sự phát triển về chất của tư duy tự chủ.

Thứ nhất, nếu trong Văn kiện Đại hội XIII, “độc lập, tự chủ” là nguyên tắc nền tảng, thể hiện ở khả năng giữ vững chủ quyền và tự quyết định đường lối phát triển, chủ động hội nhập quốc tế trên cơ sở phát huy nội lực, giảm phụ thuộc và nâng cao vị thế quốc gia thì đến Đại hội XIV, nội hàm này được mở rộng thành tự chủ chiến lược, tức là khả năng tự xác định, hoạch định và triển khai đường lối phát triển dài hạn phù hợp với lợi ích quốc gia - dân tộc, đồng thời duy trì tính độc lập, tự quyết trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách trước các tác động và sức ép từ môi trường quốc tế chứa đựng nhiều sự phụ thuộc, đan xen lẫn nhau, tác động qua lại lẫn nhau; ranh giới giữa đối tác và đối tượng có những thời điểm khó phân định rạch ròi. Khái niệm này không chỉ dừng lại ở khả năng định hình chiến lược, mà còn bao hàm năng lực bảo đảm nguồn lực thực thi, nâng cao sức chống chịu, thích ứng linh hoạt với biến động bên ngoài, cũng như chủ động tham gia và định hình môi trường chiến lược theo hướng có lợi cho quốc gia. Tự chủ không chỉ là trạng thái “không bị chi phối”, mà trở thành năng lực chủ động kiến tạo và dẫn dắt lợi ích quốc gia - dân tộc.

Thứ hai, nội hàm khái niệm tự chủ chiến lược toàn diện, bao trùm nhiều lĩnh vực. Tự chủ chiến lược là kết quả của sự tích hợp nhiều trụ cột cấu thành năng lực tự chủ tổng hợp của quốc gia. Trong đó:

Tự chủ về chính trị giữ vai trò nền tảng, chi phối và định hướng các lĩnh vực khác. Theo tinh thần Đại hội XIV, tự chủ về chính trị không chỉ dừng lại ở việc giữ vững độc lập về thể chế, mà còn được nâng lên thành năng lực chủ động định hình đường lối phát triển và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh quốc tế biến động phức tạp; kiên định con đường phát triển, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm sự ổn định của thể chế và duy trì quyền tự quyết trong các lựa chọn chiến lược, giúp Việt Nam không bị cuốn vào quỹ đạo của bất kỳ lực lượng nào, không bị cuốn theo trào lưu nhất thời hay sức ép từ bên ngoài. Đây là điều kiện tiên quyết để các trụ cột khác vận hành một cách độc lập, hiệu quả. Tinh thần “kiên định” chính là bản lĩnh chính trị, là sự tiếp nối mạch nguồn lịch sử và những bài học từ công cuộc đổi mới, là lời cam kết mạnh mẽ của Đảng trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng luôn luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, kiên định con đường tự lực, tự chủ, tự cường, luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết, đặt ấm no và hạnh phúc của Nhân dân ở vị trí trung tâm”(4).

Tự cường về kinh tế là trụ cột trung tâm của tự chủ chiến lược. Theo Joseph E. Stiglitz, năng lực tự chủ kinh tế là yếu tố quyết định khả năng duy trì độc lập chính sách trong bối cảnh toàn cầu hóa(5). Một nền kinh tế có nội lực mạnh, có khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài và “giải quyết tốt mối quan hệ giữa tự chủ sản xuất trong nước với việc tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu”(6) sẽ tạo nền tảng vật chất cho tự chủ quốc gia. Để đạt được điều đó, Đại hội Đảng lần thứ XIV nhấn mạnh: “Xác lập mô hình tăng trưởng mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học công nghệ, đổi mới, sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực chính; phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, phát triển kinh tế tư nhân...”(7). Đối với Việt Nam, tự cường về kinh tế không chỉ là tăng trưởng, mà còn bao gồm nâng cao chất lượng tăng trưởng, đổi mới mô hình phát triển và giảm phụ thuộc vào bên ngoài.

Tự tin về văn hóa - con người phản ánh chiều sâu của quyền lực mềm trong tự chủ chiến lược. Văn hóa không chỉ là bản sắc mà còn là nguồn lực tạo nên sức hấp dẫn và khả năng lan tỏa giá trị quốc gia. Theo Joseph S. Nye, quyền lực mềm bắt nguồn từ sức hấp dẫn của văn hóa, giá trị và chính sách(8). Một quốc gia có bản sắc văn hóa vững mạnh và con người có năng lực, bản lĩnh sẽ có khả năng tăng cường ảnh hưởng và sức hấp dẫn. Đại hội XIV xác định: Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, phát triển con người bảo đảm vừa phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu những tinh hóa văn hóa nhân loại, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế(9) đồng thời: “Chủ động hội nhập quốc tế về văn hóa, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và truyền bá văn hóa Việt Nam ra thế giới. Mở rộng giao lưu, hợp tác văn hóa với các nước, đưa các quan hệ quốc tế về văn hóa đi vào chiều sâu. Tạo điều kiện thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài, các tổ chức quốc tế đầu tư trí tuệ, nguồn lực tham gia phát triển văn hóa, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam”(10).

Tự lực về khoa học - công nghệ là điều kiện then chốt để nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo đảm tự chủ dài hạn. Trong thời đại của chuyển đổi số và cách mạng công nghiệp 4.0, việc phụ thuộc vào công nghệ bên ngoài có thể dẫn đến những rủi ro về an ninh và phát triển, quốc gia nào làm chủ công nghệ lõi sẽ có lợi thế chiến lược vượt trội. Vì vậy, phát triển khoa học - công nghệ nội sinh, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao là yêu cầu cấp thiết đối với Việt Nam để đảm bảo tự chủ chiến lược.

Tự chủ về quốc phòng, an ninh là trụ cột cốt lõi, bảo đảm khả năng bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống. Tại Đại hội lần thứ XIV, Đảng nhấn mạnh: “tăng cường quốc phòng, an ninh, đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên”(11), đồng thời khẳng định: Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định là điều kiện tiên quyết để phát triển. Phải tiếp tục củng cố quốc phòng, an ninh; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; chủ động nắm chắc tình hình; nâng cao năng lực dự báo, phòng ngừa, xử lý kịp thời các tình huống; kiên quyết không để bị động, bất ngờ”(12).

Từ cấu trúc đa trụ cột nêu trên, có thể thấy: tự chủ chiến lược không phải là kết quả của một lĩnh vực riêng lẻ, mà là sản phẩm của sức mạnh tổng hợp quốc gia. Nội hàm toàn diện của tự chủ chiến lược của Đại hội XIV cho thấy tư duy mới: chỉ khi củng cố vững chắc nội lực trên tất cả các lĩnh vực, quốc gia mới có thể đạt được và duy trì tự chủ thực chất trong môi trường quốc tế phức tạp. Đây chính là cơ sở lý luận quan trọng để Việt Nam vừa bảo đảm độc lập, vừa chủ động hội nhập sâu rộng, hiệu quả.

Thứ ba, tự chủ chiến lược thể hiện sự chuyển đổi từ tư duy “phòng vệ” sang “chủ động định hình”, đây là bước tiến rất quan trọng. Nếu trước đây, tự chủ gắn với ứng phó và bảo vệ trước sức ép bên ngoài, thì nay còn bổ sung thêm: (1) chủ động tham gia định hình môi trường chiến lược; (2) tạo thế đan xen lợi ích; (3) ngăn ngừa rủi ro từ sớm, từ xa. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn gia tăng, khi môi trường quốc tế không còn ổn định mà mang tính đa cực, phân mảnh và biến động nhanh.

Thứ tư, tự chủ chiến lược gắn liền với yêu cầu giảm phụ thuộc và nâng cao năng lực nội sinh: từ chất lượng nguồn nhân lực, năng lực khoa học - công nghệ, khả năng đổi mới, sáng tạo, đến sức mạnh văn hóa và sự gắn kết xã hội. Điều này thể hiện trên các phương diện: (1) về kinh tế: đa dạng hóa thị trường, chuỗi cung ứng; (2) về khoa học - công nghệ: tăng cường năng lực đổi mới sáng tạo; (3) về quốc phòng - an ninh: nâng cao năng lực tự bảo vệ; (4) về đối ngoại: cân bằng quan hệ, tránh bị cuốn vào liên minh đối đầu. Theo đó, tự chủ chiến lược trở thành kết quả tổng hợp của sức mạnh quốc gia, chứ không chỉ là một lựa chọn chính sách.

Việc nâng tầm “tự chủ chiến lược” thành nguyên tắc xuyên suốt cho thấy Đảng đã chuyển từ tư duy bị động thích ứng sang chủ động kiến tạo, từ “giữ thế” sang “tạo thế”. Đây chính là bước phát triển mang tính đột phá trong tư duy chiến lược, tạo nền tảng để Việt Nam vừa giữ vững độc lập, chủ quyền, vừa nâng cao vai trò và vị thế trong hệ thống quốc tế. Đảng xác định tự chủ chiến lược là yếu tố then chốt để đất nước có thể chủ động, linh hoạt ứng phó với các biến động bên ngoài, đồng thời khai thác tối đa các nguồn lực nội tại(13).

Hai là, tự chủ chiến lược thể hiện tư duy bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”

Bảo vệ Tổ quốc là quá trình tổng hợp, liên ngành, gắn chặt với phát triển, được triển khai chủ động, thường xuyên và từ sớm, từ xa. Trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, tư duy quốc phòng - an ninh được phát triển theo hướng chủ động phòng ngừa chiến lược, thay vì chỉ ứng phó khi nguy cơ đã hiện hữu. “Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy là đề cao tính “tích cực, chủ động”; kết hợp chặt chẽ xây dựng với bảo vệ, lấy xây dựng để bảo vệ; tích cực, chủ động xây dựng, chuẩn bị đất nước vững mạnh về mọi mặt (chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại…) ngay từ trong thời bình để tạo sức mạnh răn đe, ngăn chặn mọi ý đồ, hành động xâm lược và âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch”(14). Đại hội XIV thể hiện rõ bước chuyển từ thế bị động sang chủ động chiến lược, kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại. “Đối ngoại cùng với quốc phòng, an ninh tăng cường bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy”(15). Đây là bước chuyển quan trọng từ tư duy bảo vệ thụ động sang tư duy bảo vệ chủ động, phát hiện và xử lý từ sớm, từ xa.

Thứ nhất, bảo vệ Tổ quốc “không chỉ là ngăn chặn, đẩy lùi các mối đe dọa trực tiếp, mà còn là chủ động phòng ngừa, kiểm soát và xử lý hiệu quả các yếu tố có thể làm xói mòn nền tảng chính trị - xã hội, ảnh hưởng đến tiến trình phát triển của đất nước. Đây là cách tiếp cận phù hợp với yêu cầu quản trị an ninh quốc gia hiện đại, trong đó phòng ngừa, dự báo và quản trị rủi ro được đặt lên hàng đầu”(16). Như vậy, trọng tâm không còn là đối phó khi xảy ra, mà là ngăn ngừa không để xảy ra. Điều này đòi hỏi nâng cao năng lực: (1) phân tích, dự báo chiến lược; (2) nhận diện rủi ro phi truyền thống; (3) chuẩn bị các phương án phòng ngừa đa cấp độ.

Thứ hai, cách tiếp cận này mở rộng không gian bảo vệ Tổ quốc vượt ra ngoài biên giới lãnh thổ. “Từ xa” không chỉ là không gian địa lý, mà còn bao gồm: (1) không gian kinh tế (chuỗi cung ứng, thị trường); (2) không gian mạng; (3) môi trường chiến lược khu vực và quốc tế. Do đó, bảo vệ Tổ quốc bắt đầu từ việc giữ ổn định môi trường bên ngoài, không để các nguy cơ lan tới trong nước.

Thứ ba, “bảo vệ từ sớm, từ xa” gắn liền với việc kết hợp chặt chẽ quốc phòng - an ninh - đối ngoại. Trong đó: (1) đối ngoại đóng vai trò tuyến đầu, tạo thế hòa bình, đan xen lợi ích. Đối ngoại tiếp tục giữ vai trò tiên phong bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc; kiên định độc lập, tự chủ; chủ động, tích cực và có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; tận dụng hiệu quả cơ hội hợp tác; đưa các quan hệ đối tác đi vào chiều sâu, thực chất; kết hợp chặt chẽ đối ngoại với quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế; giữ vững nguyên tắc nhưng mềm dẻo, linh hoạt về sách lược”(17). (2) quốc phòng - an ninh là lực lượng nòng cốt, sẵn sàng răn đe và xử lý. Đẩy mạnh đột phá phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh, tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại; chú trọng tăng đầu tư hợp lý cho quốc phòng, an ninh, nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân trong bảo vệ vững chắc Tổ quốc trước mọi tình huống, nhất là chiến tranh công nghệ cao”(18). (3) các lĩnh vực khác (kinh tế, thông tin, văn hóa, xã hội,…) cùng tham gia tạo sức mạnh tổng hợp. Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh: Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng, an ninh, chuẩn bị nguồn lực quốc gia; nâng cao năng lực tự chủ chiến lược và khả năng huy động nguồn lực đáp ứng yêu cầu mọi tình huống quốc phòng, an ninh”(19). Cách tiếp cận này thể hiện rõ tư duy “giữ nước từ khi nước chưa nguy”.

Thứ tư, trong tư duy tự chủ chiến lược, phát triển và bảo vệ Tổ quốc tồn tại trong mối quan hệ biện chứng. Phát triển nhanh và bền vững tạo tiềm lực kinh tế, khoa học - công nghệ, văn hóa, con người và vị thế quốc tế, là cơ sở quan trọng để tăng cường năng lực quốc phòng, an ninh. Ngược lại, bảo vệ vững chắc môi trường hòa bình, ổn định chính trị - xã hội là điều kiện tiên quyết để thực hiện các mục tiêu phát triển liên tục và bền vững. Đây là cơ sở để bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”.

Thứ năm, sự chuyển đổi này phản ánh bước phát triển từ thế bị động sang chủ động chiến lược, từ “bảo vệ lãnh thổ” sang bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc một cách toàn diện và từ sớm. Đây là nền tảng quan trọng để Việt Nam nâng cao khả năng thích ứng và ứng phó hiệu quả trong bối cảnh an ninh khu vực và thế giới ngày càng phức tạp.

Ba là, kết hợp chặt chẽ các trụ cột quốc phòng - an ninh - đối ngoại

Trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, một điểm mới nổi bật là sự phát triển tư duy theo hướng tích hợp đa lĩnh vực, trong đó ba trụ cột quốc phòng - an ninh - đối ngoại không còn vận hành tương đối tách biệt mà được đặt trong một chỉnh thể chiến lược thống nhất.

Thứ nhất, quan điểm quốc phòng không tách rời đối ngoại phản ánh nhận thức mới về phương thức bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện hội nhập sâu rộng. Quốc phòng không chỉ dựa vào sức mạnh quân sự, mà còn cần: (1) tạo dựng thế trận lòng dân và thế trận quốc tế thuận lợi. Đại hội Đảng lần thứ XIV nêu rõ: Bước vào giai đoạn mới, càng phải chăm lo xây dựng thế trận lòng dân; thế trận lòng dân vững thì quốc phòng, an ninh vững; thế trận lòng dân vững thì cải cách mới đi tới cùng; thế trận lòng dân vững thì khó khăn nào cũng vượt qua, thách thức nào cũng được hóa giải”(20) và nhấn mạnh cần “vừa phải tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh vừa phải đẩy mạnh hoạt động đối  ngoại, phát triển toàn diện các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội, làm cho đất nước ngày càng mạnh mẽ lên để tạo sức mạnh răn đe, ngăn chặn, dập tắt mọi ý đồ, hành động của đối phương từ sớm, từ xa”(21). (2) tranh thủ sự ủng hộ, hợp tác từ bên ngoài; (3) giảm thiểu nguy cơ xung đột thông qua đối thoại và xây dựng lòng tin.

Thứ hai, tư duy “an ninh gắn với phát triển” cho thấy sự mở rộng nội hàm an ninh. An ninh không chỉ là bảo vệ chế độ hay trật tự xã hội, mà còn bao gồm: bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, an ninh con người, an ninh chế độ, an ninh văn hóa - tư tưởng, an ninh kinh tế - tài chính, an ninh mạng - dữ liệu, an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước,…; tăng cường quốc phòng toàn dân, phòng thủ chủ động; ngăn ngừa, đẩy lùi từ sớm các nhân tố gây mất ổn định chính trị từ bên trong; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững và củng cố môi trường hòa bình để xây dựng và phát triển đất nước”(22). Ngược lại, phát triển kinh tế - xã hội lại là nền tảng vật chất để củng cố an ninh, tạo ra mối quan hệ tương hỗ hai chiều.

Thứ ba, việc xác định “đối ngoại là tuyến đầu trong bảo vệ Tổ quốc” thể hiện bước đột phá về tư duy chiến lược. Phương châm đa phương hóa, đa dạng hóa trong quan hệ quốc tế là một biểu hiện quan trọng của tự chủ chiến lược trong đối ngoại. Đại hội XIV nhấn mạnh: Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, bảo đảm tự chủ chiến lược, đa phương hóa, đa dạng hóa trong quan hệ quốc tế; tích cực chủ động hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, hiệu quả; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế”(23). Việt Nam tham gia nhiều cơ chế, diễn đàn quốc tế, thiết lập quan hệ với nhiều đối tác khác nhau với mục tiêu tránh phụ thuộc vào một quốc gia hoặc một thị trường, tạo thế cân bằng chiến lược và linh hoạt. Điều đó giúp Việt Nam mở rộng không gian chiến lược và nâng cao khả năng tự chủ trong xử lý các vấn đề quốc tế. Mặt khác, trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh nước lớn gay gắt và phức tạp hiện nay, phương châm đối ngoại đó giúp Việt Nam có thể ngăn chặn nguy cơ xung đột từ sớm thông qua ngoại giao; lợi ích quốc gia được bảo vệ bằng đàm phán, luật pháp quốc tế và hợp tác đa phương; Việt Nam có thể tạo thế đan xen lợi ích để giảm thiểu rủi ro. Đối ngoại trở thành một công cụ quan trọng để củng cố quốc phòng từ bên ngoài, là công cụ tạo môi trường hòa bình từ sớm, từ xa, chủ động phòng ngừa xung đột, là phương tiện tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi cho phát triển, góp phần bảo vệ Tổ quốc không chỉ bằng quân sự, mà bằng ngoại giao và hợp tác quốc tế. Do đó, đối ngoại không chỉ là “mở rộng quan hệ”, mà trở thành tuyến phòng thủ mềm từ xa.

Thứ tư, sự kết hợp ba trụ cột này hình thành cách tiếp cận bảo vệ Tổ quốc toàn diện và đa tầng: tầng trong: quốc phòng - an ninh bảo vệ trực tiếp; tầng ngoài: đối ngoại tạo môi trường hòa bình, ổn định; tầng nền: phát triển kinh tế - xã hội làm cơ sở. Như vậy, theo tinh thần Đại hội XIV, đối ngoại trở thành một trụ cột trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc, gắn kết chặt chẽ với quốc phòng, an ninh và kinh tế. Điều này phản ánh sự tích hợp giữa sức mạnh cứng (quân sự, kinh tế) và sức mạnh mềm (ngoại giao, văn hóa) mà theo Joseph S. Nye, sự kết hợp này tạo nên quyền lực thông minh (smart power)(24) - yếu tố quyết định trong cạnh tranh quốc tế hiện đại. Cách tiếp cận này phản ánh bước chuyển từ tư duy đơn ngành, phân tán sang liên ngành, tích hợp và tổng thể, qua đó nâng cao hiệu quả bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới.

Bốn là, nhận thức về vấn đề an ninh mở rộng, đa chiều (an ninh phi truyền thống và không gian mới)

Trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhận thức về an ninh được mở rộng theo hướng toàn diện và đa chiều, trong đó an ninh phi truyền thống trở thành trọng tâm mới nổi, phản ánh sự thích ứng với bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghệ.

Thứ nhất, nếu tư duy truyền thống về vấn đề an ninh chủ yếu tập trung vào đe dọa quân sự, xung đột vũ trang và bảo vệ lãnh thổ, thì nay, phạm vi an ninh được mở rộng sang nhiều lĩnh vực phi quân sự. An ninh trong giai đoạn mới không chỉ là an ninh biên giới, lãnh thổ, mà còn là an ninh chế độ, an ninh văn hóa - tư tưởng, an ninh kinh tế, an ninh tài chính, an ninh dữ liệu, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực,…. Vì vậy, phát triển bền vững và tự chủ chiến lược phải đặt trong tổng thể bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ cơ sở, từ nơi xuất phát”(25). Điều này cho thấy, an ninh không còn là vấn đề riêng của quân đội hay lực lượng vũ trang, mà trở thành vấn đề tổng hợp của toàn xã hội.

Thứ hai, các thách thức an ninh ngày càng mang tính xuyên quốc gia và phi biên giới. Nhiều nguy cơ không xuất phát từ một quốc gia cụ thể; lan truyền nhanh qua các không gian mới như không gian mạng, không gian kinh tế và môi trường toàn cầu; khó kiểm soát bằng các biện pháp truyền thống. Do đó, bảo vệ an ninh đòi hỏi hợp tác quốc tế sâu rộng và cơ chế phối hợp đa phương.

Thứ ba, việc nhấn mạnh an ninh phi truyền thống phản ánh bước chuyển từ tư duy an ninh đơn lĩnh vực sang an ninh toàn diện, trong đó kết hợp giữa an ninh truyền thống và phi truyền thống; giữa bảo vệ và phát triển; giữa trong nước và ngoài nước. Đặc biệt, các thách thức phi truyền thống ngày càng có khả năng tác động trực tiếp đến ổn định chính trị - xã hội và phát triển kinh tế, thậm chí tác động nhanh và sâu hơn các nguy cơ quân sự truyền thống.

Thứ tư, việc mở rộng sang các “không gian mới” cho thấy bảo vệ Tổ quốc không còn giới hạn trong lãnh thổ vật lý, mà bao gồm: không gian số; không gian kinh tế - tài chính; không gian sinh thái - môi trường.

Đây là bước chuyển từ tư duy an ninh truyền thống sang an ninh toàn diện, trong đó an ninh phi truyền thống là trọng tâm mới nổi. Đây là bước phát triển quan trọng, góp phần hình thành tư duy bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện không gian an ninh mở rộng và đan xen.

Năm là, nâng tầm đối ngoại: từ tham gia sang định hình

Trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư duy đối ngoại được phát triển theo hướng chủ động, tích cực và nâng tầm vai trò, chuyển từ “tham gia, thích ứng” sang chủ động, tích cực tham gia định hình luật chơi, cấu trúc khu vực và toàn cầu, “định hình môi trường quốc tế”.

Trước hết, nếu trước đây đối ngoại chủ yếu nhằm mở rộng quan hệ, hội nhập và tranh thủ nguồn lực bên ngoài, thì nay được nâng lên thành công cụ chiến lược để bảo vệ và thúc đẩy lợi ích quốc gia - dân tộc. Điều này thể hiện ở việc Việt Nam không chỉ tham gia vào các cơ chế khu vực và toàn cầu, mà còn: đóng góp sáng kiến; tham gia xây dựng luật lệ, chuẩn mực; tác động đến quá trình định hình các cấu trúc hợp tác. Như vậy, Việt Nam chuyển từ vai trò “người tham gia” sang từng bước trở thành “người kiến tạo”.

Thứ hai, “định hình” không có nghĩa là chi phối, mà là chủ động ảnh hưởng trong khả năng và lợi ích phù hợp. Điều này được thực hiện thông qua việc Việt Nam (1) tham gia sâu vào các thể chế đa phương; (2) phát huy vai trò tại các diễn đàn khu vực và quốc tế; (3) thúc đẩy các nguyên tắc như tôn trọng luật pháp quốc tế, hợp tác, phát triển bền vững. Qua đó, Việt Nam vừa bảo vệ lợi ích của mình, vừa góp phần vào ổn định chung.

Thứ ba, nâng tầm đối ngoại gắn chặt với yêu cầu tăng cường nội lực và tự chủ chiến lược. Chỉ khi có nền kinh tế đủ mạnh; năng lực thể chế và nhân lực cao; uy tín và vị thế quốc tế được củng cố, Việt Nam mới có khả năng tham gia “định hình” thay vì chỉ “thích ứng”. Nếu trước đây, đối ngoại chủ yếu được xem là công cụ phục vụ phát triển kinh tế, thì theo tinh thần Đại hội XIV, đối ngoại được nâng tầm thành một trụ cột cấu thành và bảo đảm thực thi tự chủ chiến lược. Ngược lại, về phần mình, tự chủ chiến lược tạo nền tảng để Việt Nam chủ động tham gia và định hình tiến trình hội nhập thay vì bị động thích ứng. Nhờ đó, Việt Nam hoàn toàn chủ động lựa chọn lĩnh vực, đối tác và mức độ hội nhập phù hợp, cũng có thể tham gia sâu rộng vào các thiết chế và chuỗi giá trị toàn cầu.

Thứ tư, bước chuyển này phản ánh sự thay đổi căn bản từ tư duy hội nhập thụ động sang hội nhập chủ động, tích cực và có trách nhiệm, qua đó: nâng cao vị thế quốc tế; gia tăng quyền tự quyết; và tạo dư địa chiến lược trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt.

Có thể nói, tự chủ chiến lược gắn với đối ngoại và hội nhập quốc tế là khả năng chủ động mở cửa, hợp tác sâu rộng nhưng vẫn giữ vững độc lập, không bị phụ thuộc hay cuốn vào cạnh tranh nước lớn, đồng thời sử dụng đối ngoại như một công cụ chiến lược để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Đây là bước chuyển quan trọng từ “đối ngoại phục vụ phát triển” sang “đối ngoại là trụ cột của tự chủ chiến lược”.

Sáu là, gắn phát triển với bảo vệ Tổ quốc trong một chỉnh thể thống nhất

Trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, một đột phá quan trọng trong tư duy là đặt phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc trong mối quan hệ hữu cơ, thống nhất, thay vì xem như hai lĩnh vực tách biệt.

Trước hết, quan điểm “phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường là trung tâm” khẳng định rằng sức mạnh bảo vệ Tổ quốc trước hết phải dựa trên: (1) tiềm lực kinh tế; (2) trình độ khoa học - công nghệ; (3) chất lượng nguồn nhân lực và đời sống nhân dân. Một nền kinh tế phát triển, ổn định sẽ tạo ra nguồn lực vật chất và tinh thần để củng cố quốc phòng - an ninh, nâng cao khả năng tự chủ và chống chịu trước các cú sốc bên ngoài.

Thứ hai, quan điểm “tăng cường quốc phòng - an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập là trọng yếu, thường xuyên” nhấn mạnh rằng, bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ liên tục, không gián đoạn, kể cả trong thời bình. Điều này thể hiện ở: (1) xây dựng tiềm lực quốc phòng, thế trận an ninh nhân dân; (2) sẵn sàng ứng phó với các đe dọa truyền thống và phi truyền thống; (3) bảo đảm môi trường ổn định để phát triển lâu dài. Như vậy, quốc phòng - an ninh vừa là lá chắn bảo vệ thành quả phát triển, vừa là điều kiện để duy trì ổn định xã hội.

Thứ ba, mối quan hệ giữa phát triển và bảo vệ Tổ quốc mang tính tương hỗ hai chiều: phát triển tạo nguồn lực cho quốc phòng - an ninh; về phần mình, quốc phòng - an ninh lại bảo đảm môi trường hòa bình cho phát triển. Hai yếu tố này không thể tách rời mà phải được triển khai đồng bộ trong mọi chiến lược, chính sách.

Thứ tư, cách tiếp cận này hướng tới việc hình thành sức mạnh tổng hợp quốc gia, kết hợp: sức mạnh kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội với sức mạnh quốc phòng - an ninh và đối ngoại. Đây là bước phát triển từ tư duy “kết hợp” đơn thuần sang tư duy tích hợp trong một chỉnh thể chiến lược thống nhất, phù hợp với yêu cầu bảo vệ và phát triển đất nước trong bối cảnh mới.

Kết luận

Quan điểm về tự chủ chiến lược của Đảng tại Đại hội XIV đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận và chỉ đạo thực tiễn, phản ánh bước chuyển căn bản từ tư duy thụ động sang chủ động chiến lược, từ tiếp cận đơn ngành sang tích hợp đa lĩnh vực và từ hội nhập sang định hình môi trường quốc tế trong bối cảnh thế giới biến động sâu sắc. Tự chủ chiến lược được xác lập như một nguyên tắc nền tảng, xuyên suốt, chi phối toàn bộ quá trình hoạch định và triển khai đường lối phát triển và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ nhất, khái niệm này đã được mở rộng thành một hệ thống tổng thể đa trụ cột, bao gồm: tự chủ chính trị, tự cường kinh tế, tự tin văn hóa - con người, tự lực khoa học - công nghệ và tự chủ quốc phòng - an ninh, đối ngoại. Sự tích hợp này thể hiện nhận thức mới của Đảng: tự chủ chiến lược chỉ có thể đạt được trên cơ sở sức mạnh tổng hợp, đặc biệt là nội lực quốc gia.

Thứ hai, điểm đột phá nổi bật của tư duy này là sự chuyển đổi từ trạng thái bị động sang chủ động, từ “ứng phó” sang “định hình”. Việt Nam không chỉ bảo vệ độc lập, chủ quyền, mà còn chủ động kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định từ sớm, từ xa thông qua sự kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Trong đó, đối ngoại được nâng tầm từ vai trò hỗ trợ phát triển thành một trụ cột của tự chủ chiến lược, góp phần mở rộng không gian chiến lược và nâng cao vị thế quốc gia.

Thứ ba, tự chủ chiến lược thể hiện rõ yêu cầu chuyển từ phụ thuộc sang tự cường nội lực, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt và các thách thức an ninh phi truyền thống gia tăng. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải nâng cao năng lực nội sinh trên mọi lĩnh vực, từ kinh tế, công nghệ đến con người và thể chế, nhằm bảo đảm khả năng tự quyết và thích ứng linh hoạt trước các biến động quốc tế.

Thứ tư, quan điểm về tự chủ chiến lược khẳng định bản lĩnh chính trị, tầm nhìn chiến lược và năng lực điều hành của Đảng và Nhà nước, đồng thời phản ánh sự trưởng thành của Việt Nam trong vai trò một chủ thể tích cực, có trách nhiệm và ngày càng có ảnh hưởng trong hệ thống quốc tế.

Những đổi mới này không chỉ nâng cao năng lực thích ứng và tự chủ chiến lược của Việt Nam, mà còn góp phần khẳng định vai trò, vị thế của đất nước trong bối cảnh khu vực và thế giới biến động nhanh chóng, phức tạp. Đây chính là nền tảng lý luận quan trọng để Việt Nam nâng cao năng lực tự chủ và thích ứng trong bối cảnh thế giới biến động nhanh và phức tạp, giúp Việt Nam không chỉ “đứng vững” mà còn “đứng chủ động”, “đứng vững bằng trí tuệ và bản lĩnh của chính mình”(26).

 

PGS.TS. Lê Văn Toan, UVBCH Hội đồng Hòa bình và Phát triển Việt Nam. Giảng viên cao cấp Đại học Phương Đông, Nguyên Phó Viện trưởng phụ trách Viện thông tin khoa học, Giám đốc sáng lập Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

Chú thích và tài liệu tham khảo

(1), (11), (12), (17), (18), (20), (21), (22), (25). Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, 2026, t.1, tr.25, 26, 33, 33-34, 114, 39, 76, 113, 34.

(2). Bùi Hoài Sơn: “Tự chủ chiến lược: Tư duy phát triển trong kỷ nguyên mới”, https://vietnamnet.vn, ngày 26/03/2026.

(3), (4), (6), (7), (9), (10), (14), (15), (19), (23). Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, t.2, tr.397, 398, 378, 373, 263, 272, 75, 143, 278-279, 264.

(5). Joseph E. Stiglitz: Globalization and its discontents revisited, W. W. Norton & Company, 2018.

(8), (24). Joseph S. Nye Jr.: Soft power: The means to success in world politics, Public Affairs, 2004.

(13). Anh Lương: “Tự chủ chiến lược - tầm cao mới trong tư duy lãnh đạo của Đảng”, https://daibieunhandan.vn, ngày 25/01/2026.

(16). Phan Xuân Tuy: “Tự chủ chiến lược – nền tảng tư duy phát triển và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới”, https://hvctcand.bocongan.gov.vn, ngày 07/02/2026.

(26). Quốc Huy: “Tự chủ chiến lược cho một Việt Nam hùng cường”. Bài 2: “Lựa chọn tất yếu trong thời đại biến động”, https://baotintuc.vn, ngày 02/11/2025.