Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đặt ra sứ mệnh đưa Việt Nam thành quốc gia có thu nhập cao nhưng áp lực duy trì tăng trưởng hai con số là không nhỏ trong bối cảnh các động lực truyền thống như vốn và lao động giá rẻ đã suy giảm. Vậy làm thế nào để kích hoạt nguồn năng lượng mới?
Trao đổi với báo Pháp Luật TP.HCM, TS Huỳnh Thanh Điền, chuyên gia kinh tế, khẳng định chỉ có những cuộc “đại phẫu” thể chế mới đủ sức biến khát vọng này thành hiện thực.
Chuyển đổi mô hình tăng trưởng, kiến tạo động lực tư nhân
. Phóng viên: Thưa ông, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP trên 10% trong giai đoạn tới. Ông nhìn nhận thế nào về tính khả thi của mục tiêu này khi các động lực truyền thống như vốn, tài nguyên và lao động giá rẻ đều đang dần tới hạn?
+ TS Huỳnh Thanh Điền: Nếu tiếp tục vận hành theo quán tính cũ, mục tiêu tăng trưởng hai con số là rất khó và tiềm ẩn rủi ro về chất lượng. Các động lực truyền thống - vốn, tài nguyên, lao động giá rẻ - đã chạm ngưỡng tới hạn, chỉ đủ duy trì đà ngắn hạn chứ không thể tạo sức bật cho phát triển bền vững.

Để chinh phục mốc tăng trưởng trên 10%, Việt Nam buộc phải tái cấu trúc nền kinh tế, kiến tạo dư địa mới thay vì chỉ điều chỉnh chính sách manh mún. Trọng tâm là chuyển dịch quyết liệt từ chiều rộng sang chiều sâu: Lấy năng suất và đổi mới sáng tạo làm thước đo. Doanh nghiệp (DN) Việt phải thực sự làm chủ công nghệ để thâm nhập sâu vào chuỗi giá trị, thay vì gia công đơn thuần.
Chiến lược then chốt là nâng cấp TP.HCM và Hà Nội thành các đô thị toàn cầu - nơi đặt “bộ não” điều hành của các tập đoàn đa quốc gia. Song song đó, cần phát triển mạnh mẽ các khu thương mại tự do, kinh tế hàng không xoay trục sân bay quốc tế Long Thành và các hệ sinh thái kinh tế số, kinh tế xanh.
Xét đến cùng, tăng trưởng đột phá không đến từ kỳ vọng, mà phụ thuộc vào “năng lực chuyển hóa quốc gia”. Đó là khả năng hấp thụ vốn, công nghệ từ hội nhập để biến thành năng lực nội sinh và sức cạnh tranh thực tế. Chỉ khi giải được bài toán này, Việt Nam mới thoát bẫy thu nhập trung bình để bước vào quỹ đạo thịnh vượng mới.

. Văn kiện Đại hội Đảng XIV lần này xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất. Đây là một bước tiến lớn về tư duy. Tuy nhiên, để doanh nhân yên tâm bỏ vốn lớn đầu tư dài hạn thay vì “lướt sóng”, chúng ta cần những đột phá cụ thể nào về bảo hộ quyền tài sản và an toàn pháp lý?
+ Để tạo đà tăng trưởng bứt phá, Việt Nam phải kích hoạt động lực mới, trong đó kinh tế tư nhân giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Chỉ khi doanh nhân dám nghĩ lớn, tự chủ và sáng tạo, nền kinh tế mới thực sự tự cường.
Khi thể chế thực sự bảo vệ quyền tài sản, giảm rủi ro cho người sản xuất và triệt tiêu lợi ích từ đầu cơ, kinh tế tư nhân sẽ trở thành động lực trung tâm, đưa nền kinh tế vươn tới tự chủ và thịnh vượng.
Vì vậy, thể chế kinh doanh cần nhất quán: Bảo vệ quyền tài sản và bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực. Khi cơ hội không bị bóp méo bởi cơ chế “xin-cho”, DN sẽ từ bỏ tư duy “lướt sóng” để yên tâm đầu tư dài hạn.
Song song đó, Nhà nước cần kiến tạo hệ sinh thái liên kết (tư nhân - Nhà nước - FDI) để tích lũy năng lực nội sinh. Nguyên tắc điều phối dòng vốn phải rõ ràng: Chi phí cho sản xuất phải thấp hơn đầu cơ; ưu đãi có điều kiện cho sản xuất, áp chế tài cao với đầu cơ.
Về tài chính, chính sách tiền tệ cần khơi thông dòng vốn vào thực chất nền kinh tế. Cần triển khai chương trình kích cầu đầu tư quốc gia, trong đó lãi suất ưu đãi đóng vai trò “vốn mồi” để khuyến khích tư nhân mạnh dạn mở rộng quy mô.
Đặc biệt, minh bạch hóa môi trường kinh doanh là điều kiện tiên quyết. Phải kiên quyết thu hẹp khu vực phi chính thức và nạn hàng giả - nơi triệt tiêu động lực sáng tạo. Một thị trường mà người làm đúng phải gánh chi phí tuân thủ cao, còn gian lận lại được dung dưỡng sẽ không bao giờ có DN lớn.
Làm chủ công nghệ lõi và thách thức chuyển đổi xanh
. Để đạt thu nhập cao vào năm 2045, chúng ta không thể tiếp tục gia công giá trị thấp. Theo ông, chính sách kinh tế cần thiết kế lại ra sao để buộc DN Việt phải hấp thụ và làm chủ công nghệ, thay vì chỉ ưu đãi cho FDI như trước đây?
+ Để hiện thực hóa khát vọng thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam buộc phải thoát ly khỏi mô hình gia công giá trị thấp. Thực tế nền công nghiệp đang bị kìm hãm bởi “bộ ba hạn chế”: Chi phí logistics và tuân thủ cao, năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) thấp và khả năng bám trụ thị trường quốc tế yếu. Nếu không tháo gỡ đồng bộ, mọi nỗ lực công nghệ hóa chỉ mang tính cục bộ.

Do đó, chính sách kinh tế cần tái cấu trúc theo mô hình tăng trưởng tích hợp, nơi nâng cấp công nghệ gắn chặt với cải cách hạ tầng và thể chế. Thay vì “trải thảm” ưu đãi, trọng tâm phải chuyển sang đặt điều kiện, để khối FDI và DN nội cùng tích lũy năng lực sản xuất.
Thứ nhất, chuyển ưu đãi FDI từ đầu vào sang đầu ra công nghệ (tỉ lệ nội địa hóa, R&D, chất lượng nhân lực). Cơ chế phải linh hoạt: Đạt chỉ tiêu mới được hưởng ưu đãi, buộc FDI gắn lợi ích với việc nâng cấp năng lực nội địa.
Thứ hai, Nhà nước cần thiết kế lộ trình nâng cấp cụ thể cho từng ngành. Thông qua các tiêu chuẩn kỹ thuật và quy chế mua sắm công, chính sách phải tạo áp lực buộc DN Việt “học và lớn” mới có thể tham gia thị trường, từ đó tăng năng lực cạnh tranh.
Thứ ba, coi giảm chi phí logistics và tuân thủ là chính sách công nghiệp cốt lõi. Việc phát triển hạ tầng và số hóa thủ tục sẽ trực tiếp tăng TFP và mở rộng cánh cửa ra quốc tế.
Thứ tư, phát triển hệ sinh thái nhà cung ứng quốc gia. Cần các chương trình hỗ trợ kỹ thuật và kết nối chuỗi để đưa DN Việt thoát khỏi vị trí gia công cấp thấp, leo lên nấc thang giá trị cao hơn.
Cuối cùng, dòng vốn tài khóa và tiền tệ phải được nắn dòng vào công nghệ, tự động hóa và R&D. Nguồn lực quốc gia cần ưu tiên cho kết quả nâng cấp chất lượng, thay vì mở rộng quy mô đơn thuần.
Chuyển từ tư duy quản lý sang kiến tạo và chuyển hóa
Tâm thế hành động quyết định lúc này là chuyển từ tư duy quản lý sang kiến tạo và chuyển hóa. Chiến lược đã có, cơ hội đang mở ra rất nhanh; nếu bộ máy vẫn vận hành theo quán tính kiểm soát, phòng thủ và né tránh trách nhiệm, cơ hội sẽ trôi qua trước khi kịp thành hiện thực.
Đặc biệt, cần nhận thức đúng vai trò của nghị quyết Đảng. Những định hướng chiến lược này chỉ hiệu quả khi được thể chế hóa kịp thời thành luật và quy trình cụ thể. Khâu thể chế hóa phải nhanh, sát thực tiễn; chậm trễ ở đây chính là làm chậm quá trình tạo ra kết quả.
Bộ máy các cấp cần hành động dựa trên năng lực và kết quả thay vì hình thức. Mỗi chính sách phải tháo gỡ được điểm nghẽn, tạo ra năng lực mới và đo lường được hiệu quả; nếu không cần điều chỉnh ngay.
Hành động quản lý cần tinh thần dám quyết trên nền tảng pháp lý và dữ liệu minh bạch. Quyết định phải nhanh, có căn cứ và chịu trách nhiệm giải trình. Đồng thời cần chuyển từ tư duy thực hiện kế hoạch sang giải quyết vấn đề, sẵn sàng điều chỉnh từ thực tiễn.
Xét đến cùng, phải coi mỗi cơ hội là bài toán chuyển hóa để tích lũy năng lực dài hạn. Chỉ với tâm thế đó, các định hướng mới thực sự đi vào đời sống, tạo ra thịnh vượng thực chất cho đất nước.
TS HUỲNH THANH ĐIỀN
. Lần đầu tiên bảo vệ môi trường được đặt ở vị trí trung tâm ngang hàng với kinh tế. Bài toán cân bằng giữa chi phí chuyển đổi xanh đắt đỏ với nhu cầu tích lũy của DN đang suy yếu sau khủng hoảng cần được giải quyết thế nào?
+ Việc đặt bảo vệ môi trường ngang hàng với kinh tế là một bước tiến lớn về tư duy phát triển. Cần nhìn rõ rằng tiêu chuẩn xanh không phải là rào cản cục bộ mà là chuẩn mực chung hướng tới phát triển bền vững toàn cầu, phản ánh những cam kết quốc tế mang tính nhân văn về khí hậu, môi trường và trách nhiệm xã hội.
Trong bối cảnh đó, DN không đáp ứng tiêu chuẩn xanh sẽ ngày càng khó, thậm chí không thể đưa hàng hóa vào các thị trường lớn, bất kể giá rẻ hay sản lượng cao đến đâu.
Tuy nhiên, thách thức nằm ở chỗ nhiều DN Việt Nam đang suy yếu sau khủng hoảng, khả năng tích lũy hạn chế, trong khi chi phí chuyển đổi xanh lại cao. Vì vậy, bài toán không phải là chọn xanh hay tăng trưởng mà là chuyển đổi xanh theo cách nâng cao năng lực, thay vì chỉ gia tăng chi phí tuân thủ.
Trước hết, cần thiết kế lộ trình chuyển đổi xanh có phân tầng, phù hợp với quy mô, ngành nghề và năng lực tài chính của DN.
Thứ hai, Nhà nước cần chia sẻ chi phí chuyển đổi xanh thông qua tín dụng xanh và hỗ trợ lãi suất, xem đây như đầu tư nâng cấp năng lực sản xuất để đáp ứng chuẩn mực toàn cầu thay vì ưu đãi ngắn hạn.
Thứ ba, cần biến tiêu chuẩn xanh thành lợi thế thị trường. Khi đáp ứng tiêu chuẩn xanh giúp DN giữ được thị trường xuất khẩu, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu và tiếp cận các đơn hàng ổn định.
Phân quyền gắn với trách nhiệm và tâm thế hành động mới
. Báo cáo chính trị Đại hội Đảng XIV nhấn mạnh phân cấp, phân quyền và tinh gọn bộ máy để gỡ điểm nghẽn thực thi. Dưới góc độ thể chế, làm sao để luật hóa cơ chế này nhằm bảo vệ những lãnh đạo địa phương dám quyết, dám làm, tránh tình trạng đẩy việc lên Trung ương vì sợ trách nhiệm?
+ Việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và tinh gọn bộ máy là đúng hướng nhưng nút thắt lớn nhất hiện nay không phải là thiếu thẩm quyền mà là tâm lý sợ trách nhiệm. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở pháp luật chưa đủ rõ ràng và dữ liệu chưa liên thông, tích hợp khiến người ra quyết định thiếu cơ sở thông tin đáng tin cậy để chịu trách nhiệm.
Vì vậy, vấn đề không chỉ là giao thêm quyền mà là luật hóa phân quyền gắn với cơ chế bảo vệ người ra quyết định đúng. Cần quy định rõ ranh giới giữa thẩm quyền và trách nhiệm, xác định cụ thể địa phương được quyết việc gì, theo quy trình nào và dựa trên hệ dữ liệu nào, trong khi Trung ương tập trung thiết kế khung và giám sát kết quả.
Đồng thời phải bảo vệ pháp lý cho cán bộ dám làm vì lợi ích chung, phân định rõ rủi ro chính sách với vi phạm pháp luật; quyết định đúng thẩm quyền, đúng quy trình và dựa trên dữ liệu hợp lệ cần được bảo vệ, kể cả khi kết quả không như kỳ vọng. Cùng với đó là chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm có kỷ luật, trao quyền chủ động cho địa phương nhưng gắn với trách nhiệm giải trình bằng kết quả.
Cuối cùng, dữ liệu liên thông, minh bạch giữ vai trò then chốt. Khi luật rõ, dữ liệu thông và trách nhiệm được xác lập công bằng, niềm tin thể chế mới được củng cố và lãnh đạo địa phương mới dám quyết, dám làm vì mục tiêu phát triển.
. Xin cảm ơn ông.
Đột phá thể chế, định vị lại doanh nghiệp nội
Các chuyên gia, hiệp hội doanh nghiệp (DN) đã thẳng thắn chỉ ra những điểm nghẽn sinh tử, đồng thời kiến nghị giải pháp cấp bách về thể chế, dòng vốn và nhân lực chất lượng cao để biến khát vọng thành hiện thực ngay trong giai đoạn quyết định này.

TS TRẦN QUÝ, Viện trưởng Viện Phát triển kinh tế số Việt Nam:
Đại phẫu nền kinh tế bằng ba mũi giáp công

Theo tôi, mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030 không chỉ là chỉ tiêu kinh tế, mà là “mệnh lệnh sinh tồn” để Việt Nam thoát bẫy thu nhập trung bình, trước khi dân số già hóa đến. Để hiện thực hóa, nền kinh tế cần một cuộc “phẫu thuật” toàn diện.
Thứ nhất, cách mạng thể chế phải là ưu tiên hàng đầu để gỡ điểm nghẽn của mọi điểm nghẽn. Tư duy quản lý cần chuyển mạnh từ kiểm soát sang kiến tạo, dũng cảm cắt bỏ quy định chồng chéo. Đặc biệt, việc luật hóa cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm phải thực thi ngay lập tức để phá vỡ sức ì bộ máy công quyền, khơi thông dòng vốn đầu tư đang tắc nghẽn.
Thứ hai, tái cơ cấu động lực tăng trưởng dựa trên các “sếu đầu đàn” và công nghệ lõi. Cần học hỏi mô hình Chaebol hay các tập đoàn công nghệ Đài Loan để nuôi dưỡng DN dân tộc đủ sức cạnh tranh toàn cầu. Chính sách thuế, tín dụng phải được thiết kế lại nhằm nắn dòng vốn từ đầu cơ bất động sản sang sản xuất công nghiệp, bán dẫn, AI và năng lượng xanh, đưa kinh tế số chiếm 30% GDP.
Thứ ba, đột phá về hạ tầng và nhân lực. Bên cạnh dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam và an ninh năng lượng, chìa khóa nằm ở con người. Việt Nam cần chiến lược đào tạo kỹ năng quy mô quốc gia để chuẩn bị hàng vạn kỹ sư chất lượng cao, sẵn sàng đón làn sóng FDI thế hệ mới.
Đây là thời điểm hoặc không bao giờ để chúng ta định vị lại vị thế quốc gia trong kỷ nguyên mới.
TS LÊ BÁ CHÍ NHÂN, chuyên gia kinh tế:
Bốn điều kiện nền tảng để kinh tế tăng trưởng 10%

Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 10% theo tầm nhìn Đại hội Đảng XIV, cần hội tụ bốn điều kiện nền tảng và các đột phá chính sách đủ mạnh.
Thứ nhất, phải chuyển dịch mô hình tăng trưởng từ dựa vào vốn, lao động sang năng suất, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trọng tâm chính sách cần dồn vào nâng cao năng suất tổng hợp (TFP). DN nội phải giữ vị trí trung tâm hệ sinh thái sáng tạo thay vì chỉ gia công.
Thứ hai, xem đột phá thể chế là “đòn bẩy của đòn bẩy”. Cần chuyển tư duy từ quản lý sang kiến tạo, cắt giảm thực chất chi phí tuân thủ. Thể chế phải trở thành lợi thế cạnh tranh chứ không phải rào cản.
Thứ ba, tái cấu trúc kinh tế, tập trung hình thành lực lượng DN dân tộc mạnh dẫn dắt chuỗi cung ứng. Kinh tế nhà nước cần định vị lại vai trò mở đường, chỉ tập trung vào lĩnh vực then chốt mà tư nhân chưa làm được.
Thứ tư, coi đầu tư nhân lực là “hạ tầng mềm” quyết định thành bại. Cải cách đào tạo kỹ sư, chuyên gia công nghệ cần được ưu tiên ngang hàng với đầu tư hạ tầng cứng.
Cuối cùng, cần cơ chế điều hành linh hoạt, cá thể hóa trách nhiệm của người đứng đầu. Vấn đề cốt lõi không còn là “có nên hay không”, mà là dám thay đổi mạnh mẽ, làm thực chất để hiện thực hóa khát vọng quốc gia phát triển, thu nhập cao.
Ông NGUYỄN NGỌC HÒA, Chủ tịch Hiệp hội DN TP.HCM (HUBA):
Kiến tạo môi trường thông thoáng để TP.HCM tăng trưởng

Năm 2026 là thời điểm vàng để TP.HCM bứt phá nhưng cần sự ổn định tuyệt đối về cơ chế vận hành. Tuy nhiên, trong bối cảnh sắp xếp lại đơn vị hành chính theo mô hình chính quyền hai cấp và áp lực chuyển đổi xanh, DN cần một điểm tựa chính sách vững chắc. Để cộng đồng DN yên tâm dốc lực, hiệp hội kiến nghị năm giải pháp trọng tâm.
Thứ nhất, đảm bảo tính kế thừa về chính sách. Quá trình tinh gọn bộ máy cần tạo hành lang pháp lý rõ ràng, thống nhất. Tuyệt đối không để việc điều chỉnh cơ chế hay sắp xếp nhân sự làm gián đoạn dòng chảy sản xuất, kinh doanh.
Thứ hai, khơi thông điểm nghẽn thủ tục. Cần xác định rõ “địa chỉ” chịu trách nhiệm để xử lý dứt điểm các tồn đọng về thuế, đất đai và đầu tư. Việc đơn giản hóa thủ tục trên môi trường số phải đi vào thực chất nhằm giảm tối đa chi phí tuân thủ cho DN.
Thứ ba, nâng tầm đối thoại và vai trò của hiệp hội. Chính quyền cần duy trì kênh đối thoại định kỳ, xem DN là đối tác phản biện chính sách. Đồng thời cần tạo điều kiện để hiệp hội đổi mới mô hình, hỗ trợ hiệu quả cho DN trong chuyển đổi số và chuyển đổi xanh - những “giấy thông hành” bắt buộc để vươn ra biển lớn.
Ông VŨ ĐĂNG KHUÊ, Chủ tịch Hội DN nhỏ và vừa Bình Dương:
Gỡ rào cản vốn, liên kết vùng thực chất

Để hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao đề ra tại Đại hội XIV, nền kinh tế cần những bước nhảy vọt thay vì tịnh tiến tuần tự.
Từ góc độ DN nhỏ và vừa (SME), trọng tâm của sự chuyển mình này phải bắt đầu bằng việc thay đổi hoàn toàn vị thế DN nội. Nền kinh tế không thể mãi dựa vào gia công hay khối FDI. Thay vào đó, Chính phủ cần kiến tạo cơ chế để nuôi dưỡng các SME lớn mạnh, đủ sức trở thành vệ tinh cấp 1, cấp 2 trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Khi đó, kinh tế số và kinh tế xanh không còn là lựa chọn mà là mệnh lệnh sống còn để đột phá năng suất.
Song song với việc nâng tầm vị thế, nút thắt về vốn cần được tháo gỡ bằng tư duy tài chính phi truyền thống. Thay vì phụ thuộc vào tài sản thế chấp, dòng vốn nên được khơi thông qua các quỹ bảo lãnh dựa trên tín nhiệm số và dòng tiền thực tế. Cơ chế thử nghiệm (sandbox) cũng cần sớm vận hành để bảo vệ các mô hình kinh doanh đổi mới trước các rào cản pháp lý cũ.
Đặc biệt, sự liên kết vùng giữa TP.HCM các tỉnh, TP lân cận phải thực chất hơn, trở thành “phòng thí nghiệm” cho các chính sách vượt trội và hạ tầng logistics đồng bộ.
QUANG HUY ghi
QUANG HUY/Theo PLO




In bài viết