Rạng sáng 3-1 (giờ địa phương), Mỹ phát động chiến dịch quân sự nhằm vào Venezuela và bắt giữ Tổng thống Venezuela - ông Nicolas Maduro cùng Đệ nhất phu nhân Cilia Flores với cáo buộc âm mưu khủng bố ma túy, âm mưu nhập khẩu cocaine, tàng trữ và âm mưu tàng trữ súng máy và thiết bị hủy diệt nhằm vào Mỹ.
Sự kiện đã vấp phải phản ứng trái chiều từ cộng đồng quốc tế, khiến giới quan sát lo ngại về tính ràng buộc của Hiến chương Liên Hợp Quốc (LHQ) cũng như các luật pháp quốc tế liên quan.
Báo Pháp Luật TP.HCM đã có cuộc trao đổi với PGS-TS Ngô Hữu Phước, Phó trưởng khoa phụ trách khoa Luật Kinh tế, Trường ĐH Kinh tế-Luật (ĐHQG TP.HCM) để làm rõ khía cạnh pháp lý quốc tế trong cuộc tấn công này.

Tạo tiền lệ lo ngại
. Phóng viên: Thưa PGS-TS, dưới góc độ luật quốc tế, cuộc tấn công quân sự của Mỹ vào Venezuela được nhìn nhận như thế nào?

+ PGS-TS Ngô Hữu Phước: Theo Luật pháp quốc tế, việc một quốc gia sử dụng lực lượng quân sự tấn công vào lãnh thổ của một quốc gia độc lập, có chủ quyền là hành vi vi phạm luật pháp quốc tế. Sau Thế chiến thứ hai, trật tự quốc tế hiện đại được thiết lập, hành vi sử dụng vũ lực không còn là quyền tự do của quốc gia, mà bị đặt dưới những ràng buộc pháp lý chặt chẽ của Hiến chương LHQ.
Cuộc tấn công quân sự của Mỹ vào Venezuela ngày 3-1, xét dưới góc độ luật pháp quốc tế, không chỉ là một sự kiện quân sự - chính trị, mà còn đặt ra phép thử trực diện đối với hiệu lực của nguyên tắc kiềm chế sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực, nguyên tắc nền tảng của trật tự pháp lý quốc tế đương đại.
Cụ thể, Điều 2 khoản 4 Hiến chương LHQ quy định: “Tất cả các quốc gia thành viên phải kiềm chế, trong quan hệ quốc tế của mình, không được đe dọa hoặc sử dụng vũ lực chống lại toàn vẹn lãnh thổ hoặc độc lập chính trị của bất kỳ quốc gia nào, hoặc bằng bất kỳ cách nào khác trái với những mục đích của LHQ”.
Quy định này không chỉ là một nghĩa vụ điều ước thông thường, mà được thừa nhận rộng rãi là quy phạm mệnh lệnh tuyệt đối (jus cogens) của luật quốc tế hiện đại. Với tư cách là quy phạm mệnh lệnh tuyệt đối, nguyên tắc kiềm chế sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực không cho phép bất kỳ ngoại lệ đơn phương nào ngoài hai ngoại lệ được Hiến chương LHQ quy định một cách chặt chẽ tại Điều 51, bao gồm: Quyền tự vệ cá nhân hoặc tập thể chính đáng khi một quốc gia thành viên LHQ bị tấn công vũ trang; và các biện pháp do Hội đồng Bảo an quyết định nhằm duy trì hoặc khôi phục hòa bình và an ninh quốc tế.
Do đó, việc Mỹ sử dụng lực lượng quân sự xâm nhập và tấn công vào lãnh thổ Venezuela, một quốc gia độc lập, có chủ quyền, là thành viên LHQ mà không có Nghị quyết ủy quyền của Hội đồng Bảo an LHQ đã cấu thành vi phạm Điều 2 khoản 4 Hiến chương LHQ.
Cần nhấn mạnh rằng luật quốc tế không thừa nhận việc thay đổi thuật ngữ để làm biến đổi bản chất pháp lý của hành vi. Một chiến dịch quân sự vẫn là hành vi sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, cho dù nó được gắn nhãn là “thực thi pháp luật”, “bảo vệ lực lượng chấp pháp” hay “chống tội phạm xuyên quốc gia”. Việc “tái định danh pháp lý” không thể hợp pháp hóa một hành vi vốn đã bị Hiến chương LHQ cấm một cách tuyệt đối.
. Trong trường hợp Mỹ lập luận đây là hành động tự vệ, liệu các cáo buộc về “khủng bố ma túy” có đủ cấu thành một “cuộc tấn công vũ trang” để kích hoạt quyền tự vệ theo Điều 51 không, thưa PGS.TS?
+ PGS-TS Ngô Hữu Phước: Nếu Mỹ viện dẫn quyền tự vệ theo Điều 51 của Hiến chương LHQ, vấn đề pháp lý then chốt nằm ở việc đánh giá liệu các cáo buộc về “khủng bố ma túy” có đủ cơ sở để được coi là một “cuộc tấn công vũ trang” theo nghĩa của luật quốc tế hay không. Theo các chuẩn mực pháp lý quốc tế hiện hành, những cáo buộc này không đáp ứng được ngưỡng pháp lý cần thiết để kích hoạt quyền tự vệ theo Điều 51.
Theo án lệ của Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) đặc biệt là trong các vụ Nicaragua kiện Mỹ (1986), Giàn khoan dầu khí giữa Iran và Mỹ (2003) và Vụ các hoạt động vũ trang trên lãnh thổ Congo (2005), không phải mọi hành vi sử dụng vũ lực hay đe dọa an ninh đều đạt đến ngưỡng “cuộc tấn công vũ trang”. Ngưỡng này đòi hỏi mức độ nghiêm trọng cao về quy mô, cường độ và tính chất quân sự.
Buôn bán ma túy xuyên quốc gia, dù gây ra những hậu quả nghiêm trọng về xã hội, kinh tế và an ninh, nhưng về bản chất vẫn là tội phạm hình sự xuyên quốc gia, không phải là hành vi sử dụng vũ lực. Chính vì vậy, việc mở rộng khái niệm “cuộc tấn công vũ trang” để bao trùm các hiện tượng tội phạm phi truyền thống là một sự diễn giải vượt quá giới hạn cho phép của Điều 51, làm xói mòn ranh giới giữa luật hình sự quốc tế và luật xung đột vũ trang quốc tế.
Nếu lập luận này được chấp nhận thì tạo ra tiền lệ để bất kỳ quốc gia nào cũng có thể viện dẫn các mối đe dọa an ninh phi truyền thống để biện minh cho việc sử dụng vũ lực, phát động chiến tranh, vi phạm nội dung, tinh thần cốt lõi của nguyên tắc kiềm chế sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực của Hiến chương LHQ.
. Theo luật quốc tế, các nguyên thủ quốc gia đương nhiệm có quyền miễn trừ tư pháp đối với các cáo buộc hình sự ở nước ngoài hay không? Việc bắt giữ một tổng thống đương nhiệm của quốc gia khác cần đáp ứng những điều kiện pháp lý nào?
+ PGS-TS Ngô Hữu Phước: Theo luật tập quán quốc tế và án lệ Arrest Warrant (Lệnh bắt giữ) của ICJ vào năm 2002 (vụ Bỉ phát lệnh bắt Ngoại trưởng CHDC Congo), nguyên thủ quốc gia, người đứng đầu chính phủ và Bộ trưởng Bộ ngoại giao đương nhiệm được hưởng quyền miễn trừ cá nhân tuyệt đối trước thẩm quyền tài phán hình sự của các quốc gia khác trong suốt thời gian tại nhiệm.
Quyền miễn trừ này không nhằm bảo vệ cá nhân cụ thể, mà nhằm bảo vệ nguyên tắc bình đẳng chủ quyền và sự ổn định trong quan hệ quốc tế. Việc bắt giữ một tổng thống đương nhiệm chỉ có thể hợp pháp trong những ngoại lệ hết sức hạn chế, gồm sự từ bỏ quyền miễn trừ của chính quốc gia đó hoặc khi có lệnh của một tòa án quốc tế có thẩm quyền mà quốc gia liên quan đã chấp nhận.
Chính vì vậy, việc đơn phương sử dụng lực lượng quân sự tấn công vào lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền để bắt giữ nguyên thủ đương nhiệm của quốc gia khác, chỉ dựa trên pháp luật quốc nội của Mỹ, là hành vi vi phạm luật pháp quốc tế, xâm phạm trực tiếp nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia.

Tác động và cơ chế giải quyết
. Thưa PGS.TS, nếu phát sinh tranh chấp pháp lý liên quan cuộc tấn công và việc bắt giữ này, các cơ chế pháp lý nào có thể được sử dụng để xem xét hoặc giải quyết ở cấp độ quốc tế?
+ PGS-TS Ngô Hữu Phước: Về mặt lý thuyết, các tranh chấp phát sinh có thể được giải quyết bằng các biện pháp chính trị - ngoại giao mà hiệu quả nhất là biện pháp đàm phán. Bên cạnh đó, tranh chấp cũng có thể được giải quyết bằng các biện pháp tài phán, bao gồm cơ chế tòa án và trọng tài quốc tế, mà tiêu biểu là ICJ.
Tuy nhiên, trên thực tế, các cơ chế này gặp nhiều hạn chế. Việc các cường quốc thường trực Hội đồng Bảo an LHQ thực thi quyền phủ quyết, cùng với việc các quốc gia có quyền không chấp nhận thẩm quyền của ICJ, khiến cơ chế tài phán quốc tế gần như không thể áp dụng khi một trong năm nước thường trực Hội đồng Bảo an là bên tranh chấp và không chấp nhận thẩm quyền của ICJ.
. PGS.TS nhận định thế nào về tác động của cuộc tấn công với khu vực và thế giới?
+ PGS-TS Ngô Hữu Phước: Đối với khu vực Mỹ Latinh, vốn luôn nhạy cảm với các vấn đề chủ quyền, cuộc tấn công có nguy cơ gây ra những biến động dữ dội, có thể làm gia tăng bất ổn, khoét sâu chia rẽ chính trị và củng cố tâm lý chống can thiệp từ bên ngoài, đặc biệt là từ Mỹ.
Đồng thời, hành động của Mỹ khả năng sẽ là cơ sở để các quốc gia trong khu vực tăng cường sức mạnh vũ trang để tự vệ; có nguy cơ làm rạn nứt các tổ chức quốc tế khu vực như Tổ chức các Quốc gia châu Mỹ (OAS) hoặc Cộng đồng các quốc gia Mỹ Latinh và Caribe (CELAC) cũng như tạo tiền lệ cho diễn ngôn dựa vào lập luận “An ninh phi truyền thống” để biện minh cho can thiệp và tấn công vũ trang. Trong bối cảnh đó, bất kỳ quốc gia nào trong khu vực cũng có thể trở thành mục tiêu tiếp theo.
Ở phạm vi rộng hơn, hành động này tác động tiêu cực đến trật tự pháp lý quốc tế khi xâm phạm trực tiếp các nguyên tắc nền tảng của Hiến chương LHQ, đặc biệt là nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia; nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia; nguyên tắc tận tâm thực hiện các cam kết quốc tế (Pacta Sunt Servanda); nguyên tắc giải quyết hòa bình tranh chấp quốc tế; nguyên tắc kiềm chế sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực.
Cuộc tấn công của Mỹ cũng đồng thời tạo ra một tiền lệ đáng lo ngại với hoà bình và an ninh quốc tế. Bởi lẽ, việc đơn phương sử dụng vũ lực mà không có sự ủy quyền của Hội đồng Bảo an LHQ đã vi phạm quy phạm mệnh lệnh tuyệt đối (jus cogens) được ghi nhận tại Điều 2 khoản 4 của Hiến chương LHQ.
Đồng thời, hệ lụy từ việc diễn giải sai lệch quyền tự vệ chính đáng được quy định tại Điều 51 của Hiến chương LHQ thông qua việc Mỹ viện dẫn “khủng bố ma túy” là sự diễn giải không phù hợp luật pháp quốc tế.
Cuối cùng, hành động này của Mỹ là việc làm biến đổi bản chất pháp lý của hành vi, sử dụng ngôn từ “thực thi pháp luật” để che đậy một chiến dịch quân sự. Nếu tiền lệ này được chấp nhận, các quốc gia sẽ dễ dàng “quân sự hóa” các vấn đề dân sự hoặc hình sự để tấn công các quốc gia khác.
. Xin cảm ơn PGS.TS.
Ông Trump có cần thông báo quốc hội Mỹ trước chiến dịch tấn công?
Tổng thống Trump đã không thông qua quốc hội Mỹ trước khi phát động chiến dịch quân sự ở Venezuela, điều này đặt ra câu hỏi về phạm vi quyền hạn của tổng thống Mỹ trong việc tiến hành các hành động quân sự ở nước ngoài.
Về vấn đề này, PGS-TS Ngô Hữu Phước cho rằng theo Hiến pháp Mỹ, Tổng thống là Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang, nhưng quyền tuyên chiến thuộc về quốc hội. Đạo luật Quyền hạn Chiến tranh năm 1973 cho phép Tổng thống triển khai lực lượng trong những tình huống khẩn cấp, song kèm theo nghĩa vụ thông báo và giới hạn thời gian nếu không có sự phê chuẩn của quốc hội.
Tuy nhiên, PGS-TS Ngô Hữu Phước nhấn mạnh rằng theo Điều 27 Công ước Viên 1969 về Luật Điều ước quốc tế, một quốc gia không được viện dẫn pháp luật quốc nội để biện minh cho việc không thực hiện nghĩa vụ quốc tế.
“Do đó, dù hành động quân sự này có hay không có cơ sở theo pháp luật Mỹ thì điều đó cũng không làm thay đổi bản chất vi phạm của nó dưới góc độ luật pháp quốc tế” - PGS-TS Ngô Hữu Phước lưu ý.
THẢO VY/Theo PLO




In bài viết