“Đối ngoại là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên”: Một trụ cột của Chiến lược Hòa bình và Phát triển Việt Nam trong một thế giới đầy biến động

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đang khép lại với những quyết sách lịch sử, trong đó nổi bật là sự khẳng định mạnh mẽ về vai trò, vị thế chiến lược của đối ngoại và hội nhập quốc tế. Lần đầu tiên trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, văn kiện Đại hội XIV đã nâng tầm đối ngoại và hội nhập quốc tế lên ngang hàng với quốc phòng, an ninh, coi đây là nhiệm vụ trọng yếu và thường xuyên trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng, phát triển đất nước.

 

Tại phiên khai mạc Đại hội, Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định: “Kết hợp chặt chẽ, đồng bộ các nhiệm vụ: Phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hoá, con người là nền tảng; tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên”. Đây không chỉ đơn thuần là sự điều chỉnh về ngôn từ hay vị trí trong văn kiện, mà là một bước phát triển căn bản trong tư duy chiến lược của Đảng, phản ánh nhận thức sâu sắc về bản chất của kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Bối cảnh lịch sử và thực tiễn khách quan

Sự thay đổi trong định vị vai trò của đối ngoại như trên xuất phát từ những biến đổi sâu sắc của bối cảnh quốc tế và tình hình nội tại trong nước. Tại diễn đàn Đại hội, Tổng Bí thư Tô Lâm đã phân tích rõ như sau: “Đại hội XIV diễn ra khi ‘đồng hồ lịch sử’ đang điểm những khung giờ quyết định trước mốc 2030 – thời khắc Đảng ta tròn 100 năm ra đời, chiến đấu, trưởng thành và phát triển. Chưa bao giờ nguyện ước về một Việt Nam dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc lại gần với chúng ta như hôm nay; nhưng cũng chưa bao giờ chúng ta phải đối mặt với nhiều thách thức, nhiều đòi hỏi gay gắt, nhiều sức ép cạnh tranh như lúc này”.

Thế giới đang trải qua những chuyển đổi mang tính cách mạng với sự dịch chuyển quyền lực toàn cầu, cạnh tranh chiến lược ngày càng toàn diện giữa các cường quốc, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang định hình lại nền kinh tế và xã hội, cùng với những thách thức xuyên biên giới từ biến đổi khí hậu, an ninh phi truyền thống đến an ninh mạng. Trong bối cảnh ấy, không một quốc gia nào có thể đứng ngoài dòng chảy toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, không thể chỉ dựa vào sức mạnh nội lực riêng lẻ để phát triển bền vững.

Chủ đề của Đại hội XIV đã nêu rõ định hướng kép về hòa bình và phát triển: “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”. Đây không phải là sự kết hợp ngẫu nhiên mà là sự thể hiện quan điểm chiến lược nhất quán: Hòa bình là tiền đề cho phát triển, phát triển là nền tảng cho hòa bình bền vững.

Đối với Việt Nam, sau gần 4 thập kỷ đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn về kinh tế - xã hội, từ một nước nghèo nàn, lạc hậu đã trở thành nền kinh tế đứng thứ 3 Đông Nam Á với tốc độ tăng trưởng ấn tượng. Tuy nhiên, trên con đường thực hiện khát vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam cũng đang phải đối mặt với những thách thức lớn to lớn: Nền kinh tế vẫn chủ yếu dựa vào lợi thế so sánh truyền thống, năng suất lao động và năng lực cạnh tranh chưa cao, công nghệ và đổi mới sáng tạo còn hạn chế, các nguồn lực nội sinh đang cạn kiệt dần. Trong khi đó, Việt Nam cần phải tiến lên các bậc cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu, phát triển nền kinh tế tri thức, làm chủ công nghệ tiên tiến, và điều này đòi hỏi phải tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài thông qua hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện.

Đồng thời, môi trường an ninh khu vực và quốc tế đang có những diễn biến phức tạp khó lường. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tiếp tục diễn biến phức tạp và khó lường, đặc biệt tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, nơi Việt Nam có vị trí địa chiến lược quan trọng. Các tranh chấp lãnh thổ và chủ quyền trên Biển Đông vẫn tiềm ẩn nguy cơ bất ổn. Trong tình hình đó, sự nghiệp bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ không thể chỉ dựa vào sức mạnh quân sự mà cần có chiến lược đối ngoại chủ động, linh hoạt, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định để phát triển. Như Đảng ta đã nhiều lần chỉ ra, hoạt động ngoại giao có sứ mệnh giúp mở rộng hợp tác để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, tạo ra vành đai an ninh bên ngoài biên giới quốc gia, giảm thiểu rủi ro và tăng cường sức mạnh tổng hợp của đất nước.

Chính trong bối cảnh khách quan ấy, Đảng đã có sự nhận thức mới, sâu sắc hơn về vai trò của đối ngoại trong thời gian tới. Từ quan niệm đối ngoại là hoạt động phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc, giờ đây đối ngoại được nâng lên vị trí ngang hàng với quốc phòng, an ninh, trở thành một trụ cột trong chiến lược phát triển đất nước. Đây là sự thừa nhận vai trò đặc biệt quan trọng của đối ngoại đối với sự sống còn, phát triển bền vững của đất nước trong thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng.

 

Đối ngoại vì hòa bình, hòa bình vì phát triển

Việc khẳng định đối ngoại và hội nhập quốc tế là “nhiệm vụ trọng yếu và thường xuyên” không phải là khẩu hiệu mà mang ý nghĩa chiến lược sâu sắc nhằm định hướng toàn diện cho hoạt động đối ngoại trong kỷ nguyên mới. Bộ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung đã nhấn mạnh tại buổi họp báo chiều ngày 21/1 về Đại hội XIV: “Chủ trương nhất quán của Việt Nam là độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp Quốc, hợp tác bình đẳng cùng có lợi; là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; tham gia chủ động, có trách nhiệm vào việc giải quyết các vấn đề chung của khu vực và quốc tế”.

“Trọng yếu” thể hiện tầm quan trọng hàng đầu, tính quyết định của đối ngoại đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đối ngoại không còn là hoạt động bổ trợ, hỗ trợ hay công cụ thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế đơn thuần, mà là nhiệm vụ cốt lõi, có tính chất quyết định đến vận mệnh của đất nước. Trong thế giới ngày nay, khi các quốc gia ngày càng phụ thuộc lẫn nhau, khi hòa bình, ổn định, phát triển của một nước gắn chặt với môi trường quốc tế, thì đối ngoại trở thành yếu tố không thể thiếu được. Một chính sách đối ngoại sáng suốt, linh hoạt có thể tạo ra môi trường thuận lợi cho phát triển, mở rộng không gian chiến lược, nâng cao vị thế quốc gia. Ngược lại, sai lầm trong đối ngoại có thể dẫn đến cô lập, mất đi cơ hội phát triển, đe dọa trực tiếp đến an ninh quốc gia và thậm chí là sự tồn vong của chế độ.

“Thường xuyên” nhấn mạnh tính liên tục, bền bỉ của hoạt động đối ngoại. Đối ngoại không chỉ diễn ra trong những thời điểm đặc biệt, khi có sự kiện quan trọng hay khủng hoảng, mà phải là hoạt động thường trực, diễn ra mọi lúc, mọi nơi, trong mọi hoàn cảnh. Điều này đòi hỏi hệ thống đối ngoại phải luôn trong trạng thái sẵn sàng cao, chủ động nắm bắt tình hình, dự báo xu thế, phát hiện sớm các cơ hội và thách thức, kịp thời tham mưu cho Đảng, Nhà nước những quyết sách chiến lược. Tính thường xuyên còn thể hiện ở sự tham gia liên tục, tích cực của Việt Nam vào các cơ chế đa phương, song phương, xây dựng và duy trì quan hệ tin cậy, bền vững với các đối tác, không để bị động, bất ngờ trước những biến động quốc tế.

Việc đặt đối ngoại ngang hàng với quốc phòng, an ninh còn thể hiện nhận thức sâu sắc về mối quan hệ hữu cơ, bổ trợ lẫn nhau giữa 3 lĩnh vực này trong việc thực hiện sứ mệnh kép hòa bình và phát triển. Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh trong bài phát biểu tại Đại hội: “quốc phòng, an ninh và đối ngoại: Giữ vững hòa bình để phát triển, phát triển để tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia”. Quốc phòng, an ninh và đối ngoại là 3 mặt của một chỉnh thể thống nhất, cùng phục vụ mục tiêu bảo vệ và phát triển đất nước. Nếu quốc phòng, an ninh đảm bảo an toàn từ bên trong, răn đe và sẵn sàng đối phó với các mối đe dọa, thì đối ngoại tạo ra môi trường hòa bình, ổn định từ bên ngoài, mở rộng không gian chiến lược, huy động nguồn lực quốc tế cho phát triển, đồng thời góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Sự phối hợp chặt chẽ giữa 3 lĩnh vực, binh chủng này tạo nên sức mạnh tổng hợp, bảo đảm an ninh toàn diện cho đất nước trong mọi tình huống, đồng thời tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững.

 

Từ tham gia đến đồng hành kiến tạo

Một trong những điểm mới quan trọng nhất trong tư duy về đối ngoại được thể hiện qua văn kiện Đại hội XIV là vai trò tiên phong của ngành đối ngoại. Tiên phong ở đây không chỉ đơn thuần là đi trước trong việc tiếp xúc với thế giới bên ngoài, mà còn là dẫn dắt trong việc phân tích, đánh giá tình hình quốc tế, dự báo xu thế, phát hiện cơ hội và thách thức, từ đó tham mưu kịp thời, chính xác cho Đảng, Nhà nước những quyết sách chiến lược. Trong thế giới biến động nhanh chóng, phức tạp như hiện nay, khả năng nắm bắt và phản ứng kịp thời với các diễn biến quốc tế có ý nghĩa sống còn. Ngành đối ngoại phải là “con mắt, cái tai” nhạy bén của Đảng và Nhà nước trong việc quan sát thế giới, là “bộ não” phân tích chiến lược, là “cánh tay” thực hiện các chủ trương đối ngoại.

Vai trò tiên phong còn thể hiện ở sự chuyển đổi từ tư duy “tham gia” sang tư duy “đồng hành kiến tạo”. Trong giai đoạn trước, Việt Nam chủ yếu tập trung vào việc hội nhập, tham gia vào các tổ chức, cơ chế quốc tế, học hỏi kinh nghiệm, tiếp thu các quy tắc, chuẩn mực quốc tế. Đây là điều cần thiết để Việt Nam từ một nước bị bao vây, cấm vận dần trở thành thành viên tích cực của cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, với vị thế ngày càng nâng cao, với tham vọng trở thành nước phát triển vào năm 2045, nay Việt Nam không thể chỉ dừng lại ở vai trò người tham gia thụ động. Đất nước cần phải chuyển sang vai trò đồng hành cùng cộng đồng quốc tế kiến tạo các chuẩn mực, quy tắc, cơ chế mới phù hợp với lợi ích chung và lợi ích riêng của Việt Nam.

Tư duy kiến tạo thể hiện sự chủ động, sáng tạo trong đối ngoại, đặc biệt trong việc kiến tạo hòa bình và môi trường phát triển thuận lợi. Thay vì chỉ thích ứng với môi trường quốc tế, Việt Nam tích cực tham gia định hình môi trường đó theo hướng có lợi cho hòa bình, hợp tác và phát triển. Thực tế Việt Nam cũng đã chủ động đề xuất một sáng kiến quan trọng, đóng góp vào giải quyết các vấn đề toàn cầu và khu vực, từ biến đổi khí hậu, an ninh biển, an ninh mạng đến phát triển bền vững. Qua đó, Việt Nam không chỉ nâng cao uy tín, vị thế quốc tế mà còn tạo ra các cơ chế, khuôn khổ pháp lý quốc tế bảo vệ lợi ích chính đáng của mình. Chẳng hạn, trong vấn đề Biển Đông, Việt Nam tích cực thúc đẩy các cơ chế đa phương, xây dựng Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông, vận động cộng đồng quốc tế ủng hộ việc giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, tôn trọng luật pháp quốc tế. Đây chính là biểu hiện của tư duy kiến tạo trong đối ngoại, góp phần tích cực vào việc duy trì hòa bình và ổn định khu vực.

Trong phát biểu tại Đại học Oxford cuối tháng 10/2025, Tổng Bí thư Tô Lâm đã làm rõ triết lý hòa bình của Việt Nam: “Việt Nam là một dân tộc đã phải giành độc lập bằng xương máu và đã trả giá cho chiến tranh để có hòa bình. Chúng tôi hiểu rõ giá trị tối thượng của hòa bình. Chân lý ‘không có gì quý hơn độc lập, tự do’ của Chủ tịch Hồ Chí Minh là kim chỉ nam cho hành động của dân tộc tôi. Đó là nền tảng đạo lý và nguyên tắc sống của chúng tôi trong đời sống xã hội và quan hệ quốc tế hôm nay. Trong một thế giới đầy sức ép chọn bên, Việt Nam kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; Việt Nam mong muốn là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”.

Vai trò tiên phong, kiến tạo còn đòi hỏi ngành đối ngoại phải có năng lực dự báo chiến lược, tư duy đổi mới sáng tạo, khả năng hoạch định chính sách linh hoạt, phù hợp với từng tình huống cụ thể. Điều này đặt ra yêu cầu cao về chất lượng đội ngũ cán bộ ngoại giao, về cơ chế phối hợp liên ngành, về đầu tư cho nghiên cứu chiến lược. Ngành đối ngoại cần được trang bị đầy đủ công cụ, nguồn lực để thực hiện tốt vai trò tiên phong trong kỷ nguyên mới.

 

Hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện vì mục tiêu phát triển

Hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện là một trụ cột quan trọng trong quan điểm “đối ngoại là nhiệm vụ trọng yếu và thường xuyên”. Nếu như trong giai đoạn trước, hội nhập quốc tế chủ yếu tập trung vào lĩnh vực kinh tế, thương mại, thu hút đầu tư, thì giờ đây, hội nhập quốc tế được mở rộng sang tất cả các lĩnh vực từ chính trị, an ninh sang văn hóa, xã hội cũng như khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo và môi trường. Hội nhập sâu có nghĩa là Việt Nam không chỉ dừng lại ở việc ký kết các hiệp định, tham gia các tổ chức quốc tế, mà còn tích cực thực thi các cam kết, chủ động tham gia xây dựng các quy tắc, chuẩn mực quốc tế, nội luật hóa các cam kết quốc tế vào hệ thống pháp luật quốc gia. Hội nhập rộng có nghĩa là mở rộng đối tác, đa dạng hóa các hình thức hợp tác, không để phụ thuộc vào một thị trường, một nguồn cung ứng hay một đối tác duy nhất.

Hội nhập quốc tế sâu rộng mang lại nhiều lợi ích to lớn cho sự phát triển của đất nước. Thứ nhất, hội nhập giúp Việt Nam tiếp cận các nguồn lực quốc tế quan trọng mà nội lực còn hạn chế: vốn đầu tư chất lượng cao, công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm quản lý, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao. Các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA không chỉ mở cửa thị trường mà còn đòi hỏi Việt Nam phải cải cách thể chế, nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Điều này tạo ra áp lực tích cực, là động lực để Việt Nam đẩy mạnh cải cách, hiện đại hóa nền kinh tế, tạo nền tảng cho phát triển bền vững.

Thứ hai, hội nhập quốc tế giúp Việt Nam nâng cao vị thế, uy tín trên trường quốc tế. Việt Nam đã và đang giữ nhiều vai trò quan trọng trong các tổ chức quốc tế, từ thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, Chủ tịch ASEAN, đến vai trò tích cực trong nhiều diễn đàn đa phương. Qua đó, Việt Nam có tiếng nói trong các vấn đề quốc tế quan trọng, góp phần định hình trật tự quốc tế theo hướng dân chủ, công bằng hơn, đồng thời bảo vệ lợi ích quốc gia trong khuôn khổ đa phương. Như Chủ tịch Hội đồng Hòa bình Thế giới Pallab Sengupta đã nhận định: “Việt Nam được đánh giá là một nhân tố tích cực đối với hòa bình và ổn định. Chính sách đối ngoại hòa bình, nhất quán của Việt Nam đã góp phần tăng cường sự gắn kết trong ASEAN, thúc đẩy hợp tác quốc tế và củng cố một trật tự thế giới đa cực dựa trên luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc”.

Thứ ba, hội nhập quốc tế là công cụ quan trọng trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc và duy trì hòa bình. Thông qua việc xây dựng mạng lưới quan hệ đối tác rộng khắp, Việt Nam tạo ra môi trường quốc tế thuận lợi, hạn chế các mối đe dọa an ninh từ bên ngoài, tăng cường năng lực răn đe. Việc tham gia các cơ chế an ninh đa phương, hợp tác quốc phòng với nhiều nước giúp Việt Nam bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia một cách hiệu quả hơn. Các tài liệu chính thống đã chỉ ra rằng đối ngoại quốc phòng trong thời bình là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, giúp mở rộng hợp tác để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, tránh bị động, bất ngờ.

Tuy nhiên, hội nhập quốc tế sâu rộng cũng đặt ra những thách thức không nhỏ. Việt Nam cần phải cân bằng giữa hội nhập và bảo vệ lợi ích quốc gia, giữa mở cửa và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, giữa tranh thủ cơ hội và ứng phó với rủi ro. Điều này đòi hỏi sự tinh tế, linh hoạt trong hoạch định và thực thi chính sách, đòi hỏi năng lực thể chế và nguồn nhân lực chất lượng cao. Quan trọng hơn, hội nhập quốc tế phải gắn chặt với phát triển nội lực, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tránh tình trạng phụ thuộc quá mức vào bên ngoài.

Tam giác vàng hòa bình - an ninh - phát triển

Một trong những nội dung cốt lõi của quan điểm mới về đối ngoại mà Đại hội 14 vừa xác định là sự gắn kết hữu cơ giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế - xã hội, tạo thành “tam giác vàng” phục vụ sứ mệnh kép hòa bình và phát triển. Ba lĩnh vực này không tách rời mà bổ trợ, hỗ trợ lẫn nhau, tạo thành một hệ thống thống nhất phục vụ mục tiêu chung là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa. Đối ngoại tạo ra môi trường hòa bình, ổn định, huy động nguồn lực quốc tế cho phát triển, đồng thời góp phần bảo vệ an ninh quốc gia. Quốc phòng, an ninh đảm bảo môi trường ổn định trong nước, bảo vệ thành quả phát triển, tạo điều kiện để đối ngoại triển khai hiệu quả. Phát triển kinh tế - xã hội là nền tảng vật chất, là mục tiêu cuối cùng, đồng thời cung cấp nguồn lực cho quốc phòng, an ninh và ngoại giao.

Sự phối hợp giữa đối ngoại và quốc phòng được thể hiện rõ nét trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa - một chiến lược gắn chặt với mục tiêu duy trì hòa bình lâu dài. Thay vì chờ đến khi mối đe dọa đã hiện hữu mới ứng phó, Việt Nam chủ động sử dụng công cụ đối ngoại để ngăn ngừa, hóa giải các mối đe dọa ngay từ khi còn tiềm ẩn. Đối ngoại quốc phòng, thông qua các hoạt động trao đổi, đối thoại, hợp tác quốc phòng song phương và đa phương, góp phần xây dựng lòng tin, minh bạch hóa chính sách quốc phòng, giảm thiểu hiểu lầm, nghi ngờ, tạo ra môi trường an ninh thuận lợi. Việc tăng cường hợp tác quốc phòng với các nước trong khu vực và ngoài khu vực, tham gia các cơ chế an ninh đa phương như Hội nghị Shangri-La, Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), giúp Việt Nam mở rộng không gian chiến lược, nâng cao năng lực răn đe, đồng thời có thêm công cụ để bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia trong hòa bình.

Mối liên hệ giữa đối ngoại và phát triển kinh tế cũng mang tính hữu cơ hai chiều. Trong thời đại toàn cầu hóa, không một quốc gia nào có thể phát triển độc lập, tự cung tự túc. Việt Nam cần phải tham gia sâu rộng vào chuỗi giá trị toàn cầu, thu hút đầu tư, công nghệ, mở rộng thị trường xuất khẩu, và đối ngoại kinh tế là công cụ quan trọng để thực hiện mục tiêu này. Các hiệp định thương mại tự do không chỉ mở cửa thị trường mà còn tạo áp lực cải cách thể chế, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Đầu tư nước ngoài không chỉ mang lại vốn mà còn chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu. Tuy nhiên, để thu hút được đầu tư chất lượng cao, Việt Nam cần có môi trường đầu tư thuận lợi, luật pháp minh bạch, ổn định, cơ sở hạ tầng hiện đại, nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây chính là nội dung của cải cách thể chế, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng.

Đại hội XIV đã đặt ra mục tiêu tăng trưởng tham vọng bình quân cho giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD. Mục tiêu này không thể đạt được nếu thiếu đi bất kỳ yếu tố nào trong tam giác hòa bình - an ninh - phát triển. Hòa bình và ổn định là điều kiện tiên quyết để thu hút đầu tư, phát triển kinh tế; an ninh đảm bảo môi trường thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh; trong khi đó, phát triển kinh tế mạnh mẽ lại tạo nguồn lực để củng cố quốc phòng, an ninh và mở rộng đối ngoại. Đây là một chu trình tương tác tích cực, trong đó đối ngoại đóng vai trò then chốt trong việc kết nối các yếu tố này với nhau và với thế giới bên ngoài.

Sự gắn kết này đòi hỏi cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp, giữa trung ương và địa phương. Ngoại giao không còn chỉ là nhiệm vụ của Bộ Ngoại giao mà là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Mỗi bộ, ngành, địa phương đều có vai trò trong đối ngoại, từ đối ngoại kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học công nghệ, đến đối ngoại nhân dân. Sự phối hợp đồng bộ, hiệu quả giữa các lực lượng này sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp, phát huy tối đa hiệu quả của hoạt động đối ngoại, góp phần tích cực vào việc duy trì hòa bình và thúc đẩy phát triển.

Tự cường để hội nhập

Để thực hiện thành công quan điểm “đối ngoại là nhiệm vụ trọng yếu và thường xuyên”, Việt Nam cần phải đổi mới mạnh mẽ tư duy, phương thức hoạt động đối ngoại, đồng thời nâng cao năng lực nội sinh. Đổi mới tư duy trước hết là chuyển từ tư duy thích ứng, phản ứng sang tư duy chủ động, tiên phong, kiến tạo. Việt Nam không chỉ theo kịp xu thế mà còn tham gia định hình xu thế, không chỉ nhận các quy tắc mà còn tham gia xây dựng các quy tắc phù hợp với lợi ích chung và lợi ích riêng. Đổi mới tư duy còn thể hiện ở việc vượt qua tư duy cố hữu, giáo điều, mở rộng tầm nhìn, học hỏi kinh nghiệm quốc tế, sẵn sàng thử nghiệm những mô hình, phương thức mới phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Đặc biệt, tư duy tự cường đã được bổ sung rõ ràng vào phương châm đối ngoại của Việt Nam trong Đại hội XIV. Theo đó, văn kiện Đại hội XIV đã bổ sung nội hàm “tự cường” trong phương châm đối ngoại, phản ánh quyết tâm của Đảng trong việc nâng cao năng lực tự chủ, độc lập trong quan hệ quốc tế. Điều này không có nghĩa là Việt Nam thu mình, cô lập, mà ngược lại, là hội nhập từ vị thế vững chắc, với năng lực nội sinh mạnh mẽ, có khả năng tự bảo vệ lợi ích quốc gia trong mọi tình huống.

Đổi mới phương thức hoạt động đối ngoại đòi hỏi phải đa dạng hóa công cụ, hình thức hoạt động. Bên cạnh Ngoại giao truyền thống, Việt Nam cần tăng cường Ngoại giao kinh tế, Ngoại giao văn hóa, Ngoại giao công chúng, Ngoại giao nghị viện, Ngoại giao địa phương, Ngoại giao nhân dân... Mỗi kênh ngoại giao có vai trò, ưu thế riêng, bổ trợ lẫn nhau. Ngoại giao kinh tế tập trung vào thu hút đầu tư, mở rộng thị trường, thúc đẩy hợp tác kinh tế. Ngoại giao văn hóa quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, tăng cường sức hút mềm. Ngoại giao công chúng hướng tới dư luận quốc tế, tạo sự ủng hộ cho chính sách đối ngoại của Việt Nam. Ngoại giao nhân dân huy động sức mạnh của toàn dân, phát huy vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, của các tổ chức phi chính phủ, doanh nghiệp, trí thức. Sự phối hợp đồng bộ các kênh ngoại giao này sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại.

Nâng cao năng lực nội sinh là yêu cầu then chốt để đối ngoại phát huy được tối đa vai trò trọng yếu, thường xuyên. Năng lực nội sinh bao gồm năng lực thể chế, năng lực con người, năng lực kinh tế, năng lực khoa học công nghệ. Về thể chế, cần hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến đối ngoại, tạo hành lang pháp lý rõ ràng, minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đối ngoại. Cần cải cách cơ chế quản lý đối ngoại, tăng cường phân cấp, phân quyền, tạo tính chủ động, sáng tạo cho các cơ quan, đơn vị thực thi. Về con người, cần xây dựng đội ngũ cán bộ ngoại giao chuyên nghiệp, có trình độ cao, có tầm nhìn chiến lược, có khả năng ngoại ngữ, công nghệ thông tin, có hiểu biết sâu về lịch sử, văn hóa, chính trị, kinh tế của các nước đối tác. Cần có chính sách đãi ngộ xứng đáng để thu hút, trọng dụng nhân tài, tạo động lực cho cán bộ ngoại giao cống hiến.

Về năng lực kinh tế, một nền kinh tế mạnh là nền tảng vững chắc cho đối ngoại và là yếu tố then chốt để duy trì hòa bình, thúc đẩy phát triển. Việt Nam cần tập trung phát triển kinh tế độc lập, tự chủ, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Cần đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế xanh, leo lên các bậc cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu. Một nền kinh tế phát triển không chỉ tạo nguồn lực cho đối ngoại mà còn tăng sức hút, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Về năng lực khoa học công nghệ, cần đầu tư mạnh cho nghiên cứu chiến lược, nghiên cứu quốc tế học, xây dựng các viện, trung tâm nghiên cứu có trình độ cao, cung cấp luận cứ khoa học cho hoạch định chính sách đối ngoại. Cần ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn vào hoạt động đối ngoại, nâng cao khả năng thu thập, xử lý thông tin, dự báo xu thế.

 

Những thách thức mới

Việc thực hiện quan điểm “đối ngoại là nhiệm vụ trọng yếu và thường xuyên” không phải là con đường trải hoa hồng mà sẽ còn có nhiều khó khăn, thách thức phải quyết tâm nỗ lực vượt qua. Thứ nhất, môi trường quốc tế đang có nhiều biến động phức tạp, khó lường. Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh: “Đại hội XIV diễn ra trong bối cảnh thế giới và khu vực tiếp tục có nhiều diễn biến nhanh chóng, phức tạp và khó dự báo; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng; các thách thức an ninh phi truyền thống, nhất là biến đổi khí hậu và dịch bệnh ngày càng nghiêm trọng”. Cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc ngày càng gay gắt, chủ nghĩa đơn phương, bảo hộ thương mại gia tăng, trật tự quốc tế dựa trên luật lệ đang bị thách thức. Các mối đe dọa an ninh phi truyền thống như khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, biến đổi khí hậu, dịch bệnh ngày càng nghiêm trọng. Trong bối cảnh đó, Việt Nam với vị trí địa chính trị quan trọng nhưng cũng rất nhạy cảm, với lợi ích đan xen phức tạp với nhiều nước lớn, cần có sự tinh tế, khôn khéo để điều hướng, cân bằng các mối quan hệ, bảo vệ toàn vẹn lợi ích quốc gia trong mọi tình huống.

Thứ hai, năng lực nội sinh của Việt Nam hiện vẫn còn nhiều hạn chế. Thể chế, cơ chế chính sách chưa hoàn thiện và còn nhiều rào cản, bất cập. Đội ngũ cán bộ ngoại giao tuy đã trưởng thành rất nhiều nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ. Năng lực nghiên cứu chiến lược, năng lực dự báo, phân tích tình hình quốc tế còn chưa đủ mạnh. Sự phối hợp liên ngành trong đối ngoại chưa thật chặt chẽ, hiệu quả. Nguồn lực đầu tư cho đối ngoại còn hạn chế. Những yếu kém này cần được khắc phục nhanh chóng để đối ngoại thực sự phát huy vai trò trọng yếu, thường xuyên.

Thứ ba, sự kỳ vọng, áp lực từ dư luận trong nước và quốc tế đối với đối ngoại Việt Nam ngày càng lớn. Nhân dân cả nước vẫn mong muốn đối ngoại sẽ tạo ra môi trường hòa bình, ổn định, đem lại cơ hội phát triển, nâng cao đời sống. Cộng đồng quốc tế kỳ vọng Việt Nam sẽ đóng vai trò tích cực, có trách nhiệm hơn trong giải quyết các vấn đề khu vực và toàn cầu. Đó là vinh dự lớn nhưng để đáp ứng được, các binh chủng đối ngoại, trước hết là ngành Ngoại giao cần phải nỗ lực gấp bội, không ngừng đổi mới, nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động.

Trước những thách thức đó, để thực hiện thành công quan điểm mới, cần có sự quyết tâm chính trị cao, sự lãnh đạo sâu sát, toàn diện của Đảng, sự quản lý thống nhất, hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước, sự đồng lòng, nỗ lực của toàn dân, toàn quân. Cần tập trung vào một số giải pháp trọng tâm như: hoàn thiện chiến lược, chính sách đối ngoại, bảo đảm tính đồng bộ, nhất quán, phù hợp với từng giai đoạn phát triển; đẩy mạnh cải cách thể chế, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho hoạt động đối ngoại; xây dựng đội ngũ cán bộ ngoại giao chuyên nghiệp, tâm huyết, có năng lực cao; tăng cường đầu tư nguồn lực cho đối ngoại, nhất là cho nghiên cứu chiến lược, ứng dụng công nghệ; nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành, giữa trung ương và địa phương, giữa ngoại giao chính thức và ngoại giao nhân dân; đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về đối ngoại, nâng cao nhận thức của toàn dân về vị trí, vai trò của đối ngoại, huy động sức mạnh toàn dân tộc cho sự nghiệp đối ngoại.

 

Đối ngoại vì hòa bình và thịnh vượng

Trong các phiên thảo luận tại Đại hội XIV, vấn đề đối ngoại và hội nhập quốc tế đã thu hút sự quan tâm đặc biệt từ các đại biểu. Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cường, trong bài tham luận của mình, đã khẳng định: “Trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, mặc dù tình hình thế giới biến động phức tạp, khó lường, đối ngoại hội nhập quốc tế vẫn đạt được nhiều kết quả quan trọng: Môi trường hòa bình, ổn định, độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; cục diện đối ngoại ngày càng rộng mở, cân bằng và hài hòa; đối ngoại phục vụ phát triển được đẩy mạnh; vai trò vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam tiếp tục được nâng cao. Đây là thành quả chung của toàn hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong đó có sự đóng góp tích cực, hiệu quả của các ban, bộ, ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp”.

Nhiều đại biểu khi tham luận cũng đều nhấn mạnh dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế luôn giữ vai trò quan trọng và có những đóng góp to lớn. Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước, đối ngoại đã phối hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị và quân sự, hình thành thế trận vừa đánh vừa đàm, góp phần tạo nên những thắng lợi lịch sử như Hiệp định Geneve năm 1954, Hiệp định Paris năm 1973, mở ra những bước ngoặt quyết định cho sự nghiệp thống nhất đất nước. Bước vào thời kỳ đổi mới, đối ngoại đã tiên phong phá thế cô lập, thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng, tranh thủ hiệu quả nguồn lực bên ngoài cho phát triển, nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Đặc biệt, sứ mệnh kép hòa bình và phát triển của Việt Nam không chỉ dừng lại ở phạm vi quốc gia mà còn có tiếng vang lớn ra khu vực và thế giới. Như Đại sứ Lào tại Việt Nam Khamphao Earthavanh đã nhấn mạnh: “Quan hệ Việt Nam-Lào sẽ liên tục được tăng cường, vì lợi ích của người dân hai nước và vì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững ở khu vực và trên thế giới”. Điều phối viên thường trú Liên Hợp Quốc tại Việt Nam Pauline Tamesis cũng đánh giá: “Việt Nam đã trở thành một nước tự cường và với GDP cao, trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao và giữ vị trí cao trong các chỉ số về con người; câu chuyện của Việt Nam đã truyền cảm hứng không chỉ ở con số mà thể hiện ở sự quyết tâm trong việc đảm bảo tăng trưởng, những chính sách được triển khai thực tiễn, đặt con người vào trung tâm của phát triển và củng cố thể chế”. Còn Phó Tổng Bí thư Đảng Công nhân Bỉ Benjamin Pestieau thì nhận định: “Việt Nam lại nổi lên như một điểm sáng về ổn định chính trị và khả năng kiểm soát rủi ro. Chính sự ổn định ấy tạo nên nền tảng quan trọng để Đảng Cộng sản Việt Nam hoạch định những chiến lược phát triển dài hạn, thay vì chỉ tập trung vào các giải pháp tình thế ngắn hạn”. Điều này cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của Việt Nam không chỉ trong việc duy trì hòa bình cho chính mình mà còn đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực và thế giới.

Với quan điểm “đối ngoại và hội nhập quốc tế là nhiệm vụ trọng yếu và thường xuyên” vừa chính thức được khẳng định trong văn kiện Đại hội XIV, Việt Nam đã có một nền tảng tư tưởng ngoại giao vững chắc, một định hướng chiến lược đối ngoại đúng đắn để bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, trong đó Việt Nam không chỉ hòa nhập mà còn chủ động định hình môi trường quốc tế, không chỉ phát triển kinh tế mà còn xây dựng một xã hội văn minh, hiện đại, một quốc gia có vị thế, uy tín trên trường quốc tế; phấn đấu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

 

Đại hội của niềm tin và hy vọng

Việc Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định đối ngoại và hội nhập quốc tế là “nhiệm vụ trọng yếu và thường xuyên”, đặt ngang hàng với quốc phòng và an ninh, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong tư duy chiến lược của Đảng. Đây không chỉ là sự thừa nhận vai trò then chốt của đối ngoại trong thời đại toàn cầu hóa, mà còn là sự khẳng định mạnh mẽ về sứ mệnh kép hòa bình và phát triển - hai mục tiêu gắn bó chặt chẽ, bổ trợ lẫn nhau trong chiến lược tổng thể của đất nước.

Con đường phía trước còn nhiều khó khăn thách thức, nhưng với bản lĩnh đã được tôi rèn qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, với niềm tin vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, với sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, với đường lối đối ngoại đúng đắn, Việt Nam hoàn toàn có thể và sẽ vượt qua mọi khó khăn, thử thách, biến khát vọng vươn mình thành hiện thực rực rỡ. Đối ngoại và hội nhập quốc tế, với vai trò trọng yếu và thường xuyên, sẽ là một trong những chìa khóa quan trọng nhất mở ra cánh cửa tương lai tươi sáng cho đất nước, góp phần xây dựng một Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Để biến khát vọng thành hiện thực, Việt Nam cần phải khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế của mình: Vị trí địa chính trị, địa kinh tế chiến lược, nền văn hóa lâu đời, phong phú, con người thông minh, cần cù, sáng tạo, truyền thống yêu nước, đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường... Đồng thời, Việt Nam cũng cần tranh thủ tối đa cơ hội từ hội nhập quốc tế, tích cực tiếp cận các nguồn lực quốc tế, học hỏi kinh nghiệm quốc tế, tham gia các chuỗi giá trị toàn cầu, xây dựng quan hệ đối tác rộng khắp, vận động sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Sự kết hợp giữa nội lực và ngoại lực, giữa tự lực cánh sinh và hội nhập quốc tế sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp giúp đưa Việt Nam sớm vươn lên một tầm cao mới.

Với tất cả những gì đã diễn ra trong mấy ngày qua, ngay lúc này có thể nói là Đại hội XIV của Đảng đã thành công tốt đẹp. Thành công đó không chỉ nằm ở những quyết nghị, văn kiện với nhiều đột phá mới mang tính cách mạng đã được thông qua mà ở việc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã tỏ rõ tinh thần đoàn kết, quyết tâm nỗ lực biến những chủ trương, đường lối thành hiện thực sinh động. Trong lĩnh vực đối ngoại, đây là lúc toàn ngành Ngoại giao, toàn hệ thống chính trị, toàn xã hội cần phát huy cao độ tinh thần trách nhiệm, chủ động, sáng tạo, quyết tâm xây dựng một nền đối ngoại Việt Nam thực sự xứng tầm với vị trí trọng yếu, thường xuyên, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam vì hòa bình và phát triển bền vững.

Như Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định, Đại hội XIV là điểm khởi đầu cho kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, một kỷ nguyên vì “hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc”. Trong kỷ nguyên đó, đối ngoại không chỉ là công cụ mà là trụ cột chiến lược, không chỉ phục vụ phát triển mà còn kiến tạo hòa bình, không chỉ bảo vệ lợi ích quốc gia mà còn đóng góp cho hạnh phúc của nhân loại. Với quyết tâm chính trị cao, với đường lối đúng đắn, với sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và với một nền đối ngoại đẳng cấp, Việt Nam hoàn toàn có thể và sẽ biến khát vọng vươn mình thành hiện thực, xây dựng một đất nước xứng tầm với ước mơ “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

 

 

Ngô Hoàng/Theo scholicymaker.com