Lịch sử Học thuyết Monroe, nền tảng chính sách đối ngoại của Mỹ - Kỳ 1

Được Tổng thống Mỹ James Monroe đưa ra năm 1823, Học thuyết Monroe cảnh báo các cường quốc châu Âu không can thiệp vào công việc của Tây bán cầu.

 

Theo trang thecollector.com, ngày 2/12/1823, Tổng thống Mỹ James Monroe trình bày thông điệp thường niên trước quốc hội. Trong bài phát biểu, ông tuyên bố Tây bán cầu sẽ đóng cửa đối với mọi nỗ lực thuộc địa hóa tiếp theo của các cường quốc châu Âu. Đổi lại, Mỹ sẽ theo đuổi chính sách không can thiệp vào công việc của Thế giới Cũ (chỉ châu Âu, châu Á và châu Phi). Trong những thập niên sau đó, bài phát biểu của ông Monroe trở thành nền tảng của chính sách đối ngoại Mỹ, được gọi là Học thuyết Monroe. Khi Mỹ vươn lên thành một cường quốc quốc tế, học thuyết này cung cấp khung tư tưởng cho sự bành trướng của Mỹ, đặc biệt tại Trung Mỹ và Nam Mỹ.

Nguồn gốc của Học thuyết Monroe

Chú thích ảnh
Tranh vẽ hải đội thứ nhất của Hải quân Chile - Hạm đội Chile. Ảnh: Wikimedia Commons/Armada de Chile

Các cuộc chiến tranh của Napoleon giai đoạn 1803 - 1815, tức là chuỗi xung đột giữa Pháp và nhiều liên minh cường quốc châu Âu, đã tạm thời vẽ lại cục diện địa chính trị châu Âu, dẫn tới sự thống trị của Pháp trên phần lớn lục địa này. Mặc dù Mỹ tìm cách duy trì lập trường trung lập đối với công việc của châu Âu, nhưng các cuộc chiến này cũng tác động đến nguyên trạng tại châu Mỹ.

Khi Hệ thống Phong tỏa Lục địa của Napoleon và biện pháp phong tỏa đối phó của Anh gây tổn hại đến thương mại hàng hải và quyền lợi của Mỹ, Tổng thống Mỹ James Madison tuyên chiến với Anh năm 1812. Trong khi đó, những thắng lợi quân sự của Napoleon trước Tây Ban Nha tạo cơ hội cho nhiều thuộc địa Tây Ban Nha tại Mexico và Nam Mỹ tuyên bố độc lập. Trong giai đoạn 1810 - 1822, 15 vùng lãnh thổ thuộc địa thiết lập chính quyền tự trị. Đến năm 1826, toàn bộ các thuộc địa cũ đã cắt đứt quan hệ với Tây Ban Nha. Mỹ công nhận nền độc lập của các quốc gia này, mở ra mối quan hệ thương mại sinh lợi với các nước cộng hòa mới thành lập.

Sau khi Napoleon thoái vị lần đầu năm 1814, các đối thủ của ông nhóm họp tại Hội nghị Vienna nhằm vẽ lại bản đồ châu Âu để tránh các biến động và xung đột trong tương lai. Để bảo đảm trật tự mới, các nhà lãnh đạo tìm cách khôi phục các nền quân chủ bị Napoleon lật đổ. Các cường quốc châu Âu cũng xem đây là biện pháp nhằm đối phó với các phong trào cộng hòa và tự do nảy sinh từ Cách mạng Pháp.

Năm 1820, Hội nghị Troppau của Liên minh Thần thánh (liên minh giữa các cường quốc châu Âu) tái khẳng định cam kết của Sa hoàng Nga và các quân chủ (mới được khôi phục) về chống xu hướng lan rộng của các lực lượng tự do và yêu cầu cải cách hiến pháp. Ba năm sau, năm 1823, Pháp viện dẫn Nghị định thư Troppau để lật đổ chính phủ lập hiến của Tây Ban Nha và đưa Vua Ferdinand VII trở lại ngai vàng.

Ngoại trưởng Mỹ John Quincy Adams tỏ ra hoài nghi về tính khả thi của chương trình bảo thủ của Liên minh Thần thánh, cho rằng Mỹ đã tạo ra một tiền lệ lịch sử mang tính nền tảng. Ông viết rằng ảnh hưởng từ tấm gương của Mỹ đã làm rung chuyển các chính thể cổ xưa ở châu Âu và cho rằng cuộc cách mạng này là điều không thể tránh khỏi.

Bất chấp sự tự tin đó, việc Pháp can thiệp vào công việc của Tây Ban Nha đã khiến chính phủ Mỹ lo ngại, làm dấy lên nghi ngờ rằng Tây Ban Nha và các cường quốc châu Âu khác có thể tìm cách khôi phục các đế chế thuộc địa ở hải ngoại. Chẳng hạn, năm 1821, Sa hoàng Nga Alexander I tuyên bố chủ quyền đối với khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương và cấm các tàu nước ngoài đi lại gần bờ biển.

Hình thành Học thuyết Monroe

Tham vọng bành trướng của Nga tại châu Mỹ cũng khiến Anh lo ngại, do chính phủ Anh muốn ngăn Liên minh Thần thánh tái thuộc địa hóa Mỹ Latinh, động thái có thể gây tổn hại đến lợi ích thương mại của Anh.

Năm 1823, Ngoại trưởng Anh George Canning đề xuất Mỹ và Anh ra tuyên bố chung cấm các cường quốc châu Âu thuộc địa hóa Trung Mỹ và Nam Mỹ. Đồng thời, ông đề nghị cả hai nước từ bỏ mọi ý định sáp nhập lãnh thổ trong khu vực này trong tương lai.

Trước khi đưa ra quyết định, Tổng thống Monroe tham vấn nội các và hai cựu tổng thống là Thomas Jefferson và James Madison. Ông Jefferson ủng hộ chấp nhận đề xuất của Anh, coi đây là cơ hội để thúc đẩy chính quyền tự do trên toàn lục địa. Ông Madison cũng cho rằng Mỹ sẽ hưởng lợi từ sự hợp tác này.

Ngoại trưởng John Quincy Adams không đồng tình với quan điểm đó. Trong các cuộc họp nội các mùa thu năm 1823, ông kịch liệt phản đối kế hoạch của ông Canning, cho rằng mục tiêu thực sự của Anh là ngăn cản Mỹ mở rộng ảnh hưởng tại Mỹ Latinh. Ông Adams lo ngại rằng hợp tác với một cường quốc hải quân vượt trội có thể làm suy yếu vị thế của Mỹ trên trường quốc tế. Ông lập luận rằng Mỹ nên công khai tuyên bố các nguyên tắc của mình với Nga và Pháp, thay vì đi theo sau sức mạnh của Anh. Theo ông Adams, thay vì ra tuyên bố chung, Mỹ nên theo đuổi chính sách không can thiệp vào công việc của các nước châu Âu và coi đây là một sự nghiệp thuần túy của người Mỹ.

Học thuyết Monroe

Chú thích ảnh
Chân dung Tổng thống James Monroe do Gilbert Stuart vẽ, khoảng năm 1820-1822. Ảnh: Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan, New York

Cuối cùng, quan điểm của ông Adams được chấp nhận. Ngày 2/12/1823, Tổng thống Monroe đưa ra tuyên bố đơn phương về chính sách đối ngoại trong thông điệp thường niên trước quốc hội. Dựa trên khác biệt căn bản giữa các hệ thống chính trị của Thế giới Cũ và Thế giới Mới, ông vạch ra tầm nhìn về một thế giới chia thành hai phạm vi ảnh hưởng.

Cụ thể, Tổng thống Monroe tuyên bố rằng toàn bộ châu Mỹ, với tư cách là những quốc gia tự do và độc lập, sẽ không còn bị coi là đối tượng bị thuộc địa hóa trong tương lai của bất kỳ cường quốc châu Âu nào.

Sau khi khẳng định yêu sách của Mỹ đối với Tây bán cầu, Tổng thống Monroe cảnh báo rằng Mỹ sẽ coi mọi nỗ lực của các cường quốc châu Âu nhằm mở rộng hệ thống của họ sang khu vực này là mối đe dọa đối với hòa bình và an ninh của Mỹ.

Đổi lại, ông Monroe tuyên bố Mỹ sẽ không can thiệp vào công việc của các nước châu Âu và các thuộc địa hiện có của họ. Ông nhấn mạnh rằng Mỹ chỉ phản ứng khi quyền lợi của mình bị xâm phạm hoặc đe dọa nghiêm trọng. Lập trường này phù hợp với lời cảnh báo trước đó của Tổng thống Mỹ đầu tiên George Washington về việc tránh xa các liên minh lâu dài với các cường quốc nước ngoài.

Đón đọc kỳ cuối: Sự phát triển của Học thuyết Monroe

Thùy Dương/Báo Tin tức và Dân tộc