Thứ hai, 03/08/2026 - 08:37
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

CÁC NHÀ KHOA HỌC NGA BÀN VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Lời BBT: Hơn ba thập niên sau khi Liên Xô tan rã, tranh luận về chủ nghĩa xã hội tại Nga vẫn diễn ra sôi nổi với nhiều quan điểm khác nhau. Từ việc lý giải nguyên nhân thất bại của mô hình Xô viết đến tìm kiếm những cách tiếp cận mới về chủ nghĩa xã hội trong thế kỷ XXI, các học giả Nga đã đưa ra nhiều luận điểm đáng chú ý. Bài viết khái quát những xu hướng tranh luận tiêu biểu, qua đó gợi mở thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn đối với con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay.

 

1. Lời mở đầu

Chủ nghĩa xã hội từ khi ra đời từ ý thức hệ (hình thái ý thức) đến hiện thực luôn là sự tranh luận bất tận của xã hội loài người. Tên gọi chủ nghĩa xã hội và thêm vào sau nó những bổ ngữ khác nhau tạo nên nhiều tên gọi khác nhau về chủ nghĩa xã hội. Đương nhiên, mỗi tên gọi như vậy có sự khác biệt giữa chúng. Trước C. Mác và Ph. Ăngghen đã có nhiều tên gọi khác nhau về chủ nghĩa xã hội. Các ông đã từng liệt kê trong mục “Chủ nghĩa xã hội phản động” trong bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản: chủ nghĩa xã hội phong kiến, chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản, chủ nghĩa xã hội Đức, chủ nghĩa xã hội xã hội chân chính, chủ nghĩa xã hội bảo thủ hay chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản,... và các ông gọi chúng là sự gán ghép thấp hèn. Sau Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản cho đến nay xuất hiện nhiều trào lưu tư tưởng khác nhau về chủ nghĩa xã hội và cùng với nó là sự xuất hiện tương ứng nhiều tên gọi khác về chủ nghĩa xã hội: chủ nghĩa xã hội biến thể, chủ nghĩa xã hội dân chủ, chủ nghĩa xã hội có bờ bến, chủ nghĩa xã hội không bờ bến, chủ nghĩa xã hội lý tưởng, chủ nghĩa xã hội nhân đạo, chủ nghĩa xã hội nhân dân. Rồi những thập niên đầu thế kỷ XXI xuất hiện các tên gọi: chủ nghĩa xã hội mới, chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc, chủ nghĩa xã hội nhất nguyên, chủ nghĩa xã hội đa nguyên, chủ nghĩa xã hội thế kỷ XXI (theo cách gọi của H. Chaves),v.v..

Như vậy, một thuật ngữ rất quen thuộc nhưng lại hiểu theo các cách khác nhau, kể cả những người cùng quan niệm, cùng lý tưởng, cùng niềm tin, cùng chí hướng đến những người là đối thủ của nhau. Ngay đến như khái niệm chủ nghĩa xã hội khoa học trong học thuyết Mác, Ăngghen cũng đã và đang từng có cách hiểu khác nhau, nhiều khi là lẫn lộn ba ý nghĩa của nó. Một là, chủ nghĩa xã hội với tư cách là một khoa học; Hai là, chủ nghĩa xã hội với tư cách là một phong trào; Ba là, chủ nghĩa xã hội với tư cách là một trạng thái, nghĩa là một chế độ xã hội.

Cả ba ý nghĩa này đều hợp lý. Việc sử dụng khái niệm này hay khái niệm kia hoàn toàn phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể, đương nhiên, không nên đảo lộn chúng một cách giản đơn. Đặc biệt, điều tạo nên nhiều sự tranh luận nhất, nhiều sự khác biệt chủ yếu nhất là ở chỗ xác định và đánh giá bản chất của chủ nghĩa xã hội với tư cách là một trạng thái, tức là một chế độ xã hội. Và tất cả mọi điều phong phú, đa dạng, phức tạp cũng từ đây mà ra. Nhưng suy cho cùng, sự phong phú, đa dạng, phức tạp trong tranh luận về chủ nghĩa xã hội nằm ở chỗ thực tiễn luôn luôn thay đổi, phát triển, còn những người nghiên cứu lý luận về chủ nghĩa xã hội, những người xúc tiến xây dựng chủ nghĩa xã hội lại còn suy nghĩ giản đơn về chủ nghĩa xã hội hơn Mác, Ăngghen, Lênin - những bậc thầy của chúng ta về chủ nghĩa xã hội. Sinh thời, Ăngghen đã viết về tranh luận chủ nghĩa xã hội - xã hội xã hội chủ nghĩa: “Tất cả những người tham gia cuộc tranh luận đều coi ‘xã hội xã hội chủ nghĩa’ không phải là cái gì đó thường xuyên biến đổi và phát triển tiến bộ, mà coi nó là cái ổn định, hình thành một lần là xong, rằng phương pháp phân phối cũng được xây dựng một lần là tồn tại mãi mãi. Nhưng nếu như  nghiên cứu một cách nghiêm túc thì có thể: một, có ý tìm kiếm một phương pháp phân phối để bắt đầu từ đó, và, hai, cố gắng tìm phương pháp cho sự phát triển tiếp tục. Nhưng vấn đề này tôi không tìm thấy một lời nào trong cuộc tranh luận”(1). Thông điệp đó của Ăngghen nhắc nhở hậu thế một điều rằng, bất kỳ một môn khoa học nào, trong đó có các môn khoa học về lịch sử, chính trị, xã hội chỉ có ích cho con người khi và chỉ khi các môn khoa học đó tìm ra những khái niệm và những quy luật phản ánh các quá trình được nghiên cứu và được dự báo đúng như chúng đã và đang diễn ra trong thực tế và sẽ diễn ra trong tương lai. Nghiên cứu, tranh luận về chủ nghĩa xã hội không ngoài quy luật đó.

2. Những tranh luận của các học giả Nga về chủ nghĩa xã hội

Hơn 30 năm trước - vào những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, các nhà chính trị Phương Tây và các nhà tư tưởng của giai cấp tư sản đã tuyên bố về sự kết thúc của chủ nghĩa xã hội, đồng thời khẳng định về sự tiếp tục của nền chuyên chế tư bản chủ nghĩa toàn cầu. Họ cho rằng, sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và sự giải thể của Liên Xô cũng có nghĩa là chủ nghĩa xã hội sẽ nhanh chóng biến mất. Điều làm mọi người ngạc nhiên là hơn 30 năm trôi qua, quan điểm đó đã đổ vỡ hoàn toàn. Chủ nghĩa xã hội vẫn phát triển và hơn nữa, nó còn có bước phát triển tiến bộ hơn. Trong khi đó, chủ nghĩa tư bản toàn cầu lại đang đối mặt với khủng hoảng kinh tế mang tính hủy diệt, cùng với chủ nghĩa phiêu lưu quân sự được mở rộng quá mức, nền chính trị tê liệt, tình trạng thiếu trách nhiệm đối với môi trường và xã hội xuống cấp nặng nề, chủ nghĩa tư bản với nền tảng là chế độ thúc đẩy tiêu thụ, luôn thực hiện chính sách theo đuổi lợi nhuận tối đa bằng sự trả giá của chiến tranh. Đó là chính sách mang tính tự sát, không bền vững. Chính những điều đó đã tạo điều kiện cho loài người nhận rõ bản chất của chủ nghĩa tư bản, nhìn nhận chính xác và thúc đẩy tiến trình lịch sử chủ nghĩa xã hội thay thế chủ nghĩa tư bản.

Trong hoàn cảnh mới, những người cộng sản ở các nước đã có những cách phân tích mới và tìm tòi mới trên nhiều bình diện, nhiều khía cạnh về lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa xã hội, đưa thêm những đặc trưng mang tính dân tộc nhiều hơn, thể hiện rõ xu thế phát triển “đa dạng hóa” trong nghiên cứu, tìm tòi, xây dựng mô hình chủ nghĩa xã hội.

Đối với nước Nga, các nhà khoa học Nga - giới tinh hoa của quốc gia dân tộc, chủ nghĩa xã hội luôn là đề tài bất tận, nhất là sau khi Liên Xô giải thể, những người cộng sản lâm vào tình trạng lúng túng, bộ máy tuyên truyền tư sản ngay lập tức biến thất bại tạm thời của chủ nghĩa xã hội thành vũ khí tư tưởng chống lại chính chủ nghĩa xã hội. Hiển nhiên là thực tế này đã tác động đến phong trào cộng sản trên khắp thế giới, đặc biệt là Đảng Cộng sản Nga, làm cho một bộ phận các Đảng Cộng sản trượt vào chủ nghĩa xét lại và cơ hội. Tình trạng đa nguyên cộng sản trực tiếp dẫn đến chủ nghĩa cơ hội, bè phái, làm cho các lực lượng cộng sản bị suy yếu, vô vọng, dẫn đến sự khủng hoảng của phong trào cộng sản. Ở nước Nga, bên cạnh Đảng Cộng sản Liên bang Nga (KPRE), hiện tồn tại 5 đến 6 Đảng Cộng sản tương đối lớn khác như Đảng Cộng sản Bônsêvich toàn Nga (VKPB), Đảng Công nhân cộng sản Nga - Đảng cách mạng của những người cộng sản (RKRP-RPK), Đảng Cộng sản Liên Xô với 3 đảng thành viên và Đảng Cộng sản Nga - Đảng Cộng sản Liên Xô. Ngoài ra, còn có một số đảng nhỏ và hàng chục tổ chức xã hội theo xu hướng cộng sản. Các đảng nhỏ đang cạnh tranh lẫn nhau, còn Đảng Cộng sản Liên bang Nga thì đã trượt vào chủ nghĩa xét lại dung tục, vào chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa cơ hội.

Sao lại có tình trạng đa nguyên đó? Trở lại với lịch sử xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô để tìm căn nguyên cho câu hỏi này. Tình trạng đa nguyên trong phong trào cộng sản ở Liên Xô phản ánh sự bất đồng tư tưởng và chủ nghĩa xét lại.

Ngay từ thời Stalin, khi xuất hiện tệ sùng bái cá nhân, khi nảy sinh giáo điều về lý luận, khi xảy ra chiến dịch đàn áp với hậu quả bỏ tù hoặc tử hình không chỉ kẻ thù của chính quyền Xô viết mà cả không ít chiến sỹ Bônsêvich lão thành, không ít sỹ quan quân đội và những người dân thường không liên quan gì đến chính trị thì chủ nghĩa xét lại đã hủy hoại phong trào cộng sản rồi. Tuy rằng, thời Xtalin, đường lối chính trị chung của Đảng Cộng sản Liên Xô vẫn là đường lối mácxít.

Chủ nghĩa xét lại bùng phát trong thời Khơrútxôp làm Tổng Bí thư. Trong thời gian này bắt đầu xuất hiện những trào lưu tư tưởng khác biệt. Với việc tuyên bố đề cao nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình, coi nhẹ nguyên tắc chủ nghĩa quốc tế vô sản đã dẫn đến những nhượng bộ vô nguyên tắc đối với chủ nghĩa đế quốc trong vấn đề giải trừ quân bị, khuyến khích sự can thiệp của Phương Tây vào công việc nội bộ của các nước xã hội chủ nghĩa dưới chiêu bài đảm bảo sự tôn trọng quyền con người. Điều đó đã tạo cơ hội hình thành “đội quân thứ năm” của chủ nghĩa đế quốc ngay trong lòng các nước xã hội chủ nghĩa. Đội quân này gieo rắc ảo tưởng về hệ giá trị dân chủ của Phương Tây, tư tưởng tư sản vào đầu óc thế hệ trẻ, rêu rao về khả năng có thể “hội tụ” của hai hệ thống chính trị xã hội đối lập.

Cũng trong thời gian đó, kinh tế chính trị học mácxít bị xét lại rất nhiều. Những luận điểm về ưu tiên tăng trưởng khu vực I và sự bần cùng hóa tuyệt đối giai cấp vô sản là những luận điểm bị xét lại nhiều nhất.

Quy luật phổ biến của tích lũy tư bản chủ nghĩa - một quy luật dẫn đến sự bần cùng tuyệt đối của người lao động - cũng vận hành chỉ trong quy mô nền kinh tế thế giới. Chính vì vậy, sẽ hoàn toàn không khoa học, không biện chứng khi tách biệt bất cứ một quốc gia nào.

Về tình trạng bất đồng tư tưởng cũng đã xảy ra hàng loạt “điểm mới” xa lạ hoàn toàn với Chủ nghĩa Mác-Lênin. Khẳng định của Khơrútxốp rằng, chủ nghĩa cộng sản sẽ thắng lợi trong tương lai không xa đã phải trả giá đắt. Đây là sự duy ý chí một cách trắng trợn, sự đốt cháy giai đoạn, thái độ coi thường tất cả các quy luật kinh tế. Cương lĩnh Đảng Cộng sản Liên Xô thông qua năm 1961 đã làm suy sụp Đảng Cộng sản, giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Cương lĩnh sai lầm khi tuyên bố từ bỏ chuyên chính vô sản, tuyên bố về tính chất toàn dân của những thiết chế hoàn toàn mang bản chất giai cấp như Đảng, Nhà nước. Như vậy là đã tạo kẽ hở về hệ tư tưởng cho sự biến chất của các thiết chế đó theo tư tưởng tiểu tư sản. Sự cường điệu tác dụng của quy luật giá trị và quan hệ hàng hóa, tiền tệ không những không chấm dứt mà lại gia tăng cho đến khi nó chưa phá vỡ hoàn toàn chủ nghĩa xã hội... Đường lối xét lại đó của Khơrútxốp đã mở đường cho chủ nghĩa tư bản phục hồi ở Liên Xô.

Thời đại Brêgiơnép đã dựa hoàn toàn vào chủ nghĩa xét lại trong kinh tế và trong chính trị. Bộ máy quan liêu phình hết cỡ, tác động của quy luật giá trị được phát huy nhiều lần, Đảng Cộng sản ngày càng xa rời nhân dân, độc quyền, tham nhũng ngày càng gia tăng.

Việc khởi xướng công cuộc cải tổ từ năm 1986 là sự phát triển đến tột đỉnh những mâu thuẫn của đường lối xét lại, là bằng chứng về sự quá yếu kém, thối nát của mô hình khoác áo chủ nghĩa xã hội còn nội dung thực chất là chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa xét lại đã đạt đến cực điểm: kinh tế chính trị học, lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học, tất cả đều bị xét lại và bị bôi đen. Khái niệm “cải tổ” là thể hiện đường lối chống Lênin của những thành phần tiểu tư sản hóa ngày càng tăng lên trong Đảng Cộng sản Liên Xô. Không phải ngẫu nhiên mà tại một trong những Hội nghị Trung ương cuối cùng của Đảng Cộng sản Liên Xô, Goócbachốp đã tuyên bố rằng, trong phòng họp hiện diện không phải một mà chí ít là hai, ba đảng. Nhóm ủy viên Trung ương trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin ngày càng bị cô lập và suy yếu.

Đến những năm 1990, những xu hướng tư tưởng được định hình trước đó đã có những hình thức dưới dạng những cương lĩnh, những phong trào, những câu lạc bộ, đơn cử như: “Phong trào sáng kiến cộng sản”, sau chính biến tháng 8/1991 chuyển đổi thành Đảng Công nhân cộng sản Nga (RKRP). Sau đó, từ RKRP khối “Nước Nga lao động” đã chia tách. Nhóm “Cương lĩnh Mácxít” trong Đảng Cộng sản Liên Xô là cha đẻ của 3 tổ chức: Liên đoàn những người cộng sản, sau đổi thành Đảng Cộng sản Nga - Đảng Cộng sản Liên Xô (RKP-KPSS), Đảng nước Nga của những người cộng sản (RKP) sau hợp nhất với RKRP và phong trào “Phương án đối lập”. Nhóm “Cương lĩnh Bônsêvich” trong Đảng Cộng sản Liên Xô chuyển thành Đảng Cộng sản toàn Nga của những người Bônsêvich (VKPB). Nhóm “Cương lĩnh dân chủ” trong Đảng Cộng sản Liên Xô sau chuyển thành Đảng Cộng hòa. Trừ Đảng Cộng hòa, các đảng còn lại dựa vào cơ sở xã hội chung là giai cấp vô sản mới bao gồm tất cả lao động làm thuê rất không thuần nhất, trong thành phần của nó bao gồm từ thành phần bị phi giai cấp hóa đến tầng lớp “công nhân quý tộc”. Trong bối cảnh đa nguyên đó, nhiều nhà khoa học Nga có nhiều ý kiến khác nhau về chủ nghĩa xã hội, chúng tôi xin lược khảo những ý kiến chính như sau:

2.1. Những quan niệm, đánh giá khác nhau về chủ nghĩa xã hội trong chủ nghĩa Mác-Lênin trong bộ sách “Những tranh luận của các học giả Nga về chủ nghĩa xã hội” do tôi và một số nhà nghiên cứu sưu tầm, tuyển chọn, dịch và được Nxb. Chính trị quốc gia xuất bản

Đa số các học giả Nga đều khẳng định giá trị khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin.

* V.S. SEMENOV, trong bài “Chủ nghĩa Mác trong hiện thực và những bài học về sự phát triển của nó sau một thế kỷ rưỡi” (tr.99-129) đã khẳng định: “chủ nghĩa Mác vừa là thế giới quan, vừa là khoa học, học thuyết, vừa là hệ tư tưởng, vừa là phương pháp, phương pháp luận. Đó là một hệ thống chỉnh thể, phức tạp các tri thức và các quan điểm quý giá” (tr.97).

V.S. Semenov đã khái quát 9 đặc trưng quan trọng của chủ nghĩa Mác (tr.100-104):

(1) Chủ nghĩa Mác là một học thuyết mới rộng khắp từ giữa thế kỷ XIX, với phương pháp mới, thế giới quan và hệ tư tưởng mới. C. Mác, Ph. Ăngghen đã xây dựng một thế giới quan mới đặc sắc và hiếm có, bao gồm triết học duy vật biện chứng, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa cộng sản khoa học, dựa trên một phương pháp khoa học xác định và được thể hiện trong hệ tư tưởng riêng, minh chứng cho sự phát triển của nhân loại ở mức độ mới, hơn hẳn về chất.

(2) Chủ nghĩa Mác là sự kế thừa và tiếp tục một cách tuyệt vời, sáng tạo những thành tựu vô cùng vĩ đại của tư tưởng khoa học nhân loại. Chủ nghĩa Mác là một học thuyết mới và tiên tiến nhất, kế tục, hoàn thiện và nâng lên tầm cao mới tư tưởng khoa học phương Tây tiên tiến nhất lúc đó trong sự vận động của toàn thế giới ở Đức, Anh, Pháp và các nước khác, kể cả Nga.

(3) C. Mác và Ph. Ăngghen rút ra những kết luận của mình trên cơ sở nghiên cứu và tổng hợp, khái quát hiện thực khách quan, sự kiện khách quan, quá trình khách quan. Từ đó nhận thức và khám phá ra các quy luật và khuynh hướng khách quan của sự phát triển thế giới, toàn cầu, văn minh và xã hội.

(4) Kết hợp, kế thừa và đổi mới trong học thuyết của mình, chủ nghĩa Mác đã trả lời những vấn đề chính yếu nhất, gay cấn nhất của thời đại do sự phát triển toàn thế giới của nhân loại đặt ra.

(5) Những câu trả lời dũng cảm, không khoan nhượng, mang tính nguyên tắc của C. Mác về những vấn đề chủ yếu nhất và nóng bỏng nhất được thời đại và nhân loại đặt ra dựa trên tính phê phán và cách mạng, là những câu trả lời có tính cách mạng về nội dung và bản chất.

(6) Mác đã kết hợp quan điểm phê phán - cách mạng với việc dự báo và nhìn thấy trước tương lai. Phương pháp tiếp cận dự báo là cái vốn có của chủ nghĩa Mác mà ngày nay phương pháp đó hướng tới làm rõ các xu hướng và các vấn đề phát triển của thế kỷ XXI.

(7) Một trong những phát kiến vĩ đại nhất của C. Mác và Ph. Ăngghen là việc xây dựng học thuyết về chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội.

(8) Bản chất thực tiễn-chính trị, thực tiễn-cách mạng của chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa cộng sản được thể hiện trong tính đảng triệt để của chúng.

(9) Chủ nghĩa Mác không phải là giáo điều mà là kim chỉ nam hành động. Đó là đặc trưng và tính chất quan trọng nhất của chủ nghĩa Mác, thể hiện bản chất biện chứng: thứ nhất, chủ nghĩa Mác không phải học thuyết cứng nhắc, không biến đổi, đã hoàn thiện; thứ hai, nó là học thuyết luôn phát triển cùng với thực tế, với cuộc sống hiện thực, nó không được phép tụt hậu, là một học thuyết được làm phong phú và hiện đại hó một cách sáng tạo, sinh động và khoa học trong sự vận động, biến đổi; thứ ba, ở từng thời kỳ cụ thể của mình, chủ nghĩa Mác không phải là tuyệt đối, mà là tương đối, nó thể hiện không phải là chân lý cuối cùng mà là sự vận động thường xuyên tới chân lý đó, là quá trình nhận thức sâu sắc chân lý đó.

V.S. Semenov cũng khẳng định 11 quan điểm, kết luận và nguyên tắc có bản chất khoa học căn bản, rất quan trọng, mà nếu không có chúng thì chủ nghĩa Mác đã không còn là chủ nghĩa Mác với những thay đổi sáng tạo hoàn thiện. Đó là (tr.127-128):

(1) Phép biện chứng duy vật và học thuyết về mâu thuẫn và đối kháng;

(2) Đối lập với thuyết bất khả tri, thừa nhận việc nhận thức được thế giới;

(3) Phương pháp và phương pháp luận mác xít;

(4) Học thuyết về mâu thuẫn cơ bản của toàn bộ thời đại hiện nay giữa tư bản và lao động, quyết định một cách khách quan tiến trình chủ yếu của lịch sử hiện đại;

(5) Lý luận về giá trị thặng dư;

(6) Nhu cầu khách quan không chỉ là giải thích thế giới mà cả đòi hỏi biến đổi thế giới về chất, và với ý nghĩa này, đó là sự biến đổi cách mạng;

(7) Bản chất của sự biến đổi và cải tạo thế giới được chế định một cách khách quan và chủ quan là ở chỗ thủ tiêu hệ thống bóc lột, áp bức, bất công xã hội, sự tha hóa của các dân tộc, của con người đối với chính quyền, sở hữu, đối với lao động, tự do, văn hóa, tự chủ của chủ nghĩa tư bản và các hệ thống khác;

(8) Chủ thể của những biến đổi và xây dựng mới xã hội, nền văn minh, cuộc sống riêng của con người là các giai cấp lao động và các nhóm xã hội, đội ngũ những người làm thuê, nhân dân tất cả các nước;

(9) Xu hướng khách quan, thực tế của việc xã hội hóa các điều kiện kinh tế và xã hội của đời sống, không ngừng dẫn tới sự tăng trưởng xã hội hóa xã hội, tới bước ngoặt quyết định và bước chuyển cách mạng từ chủ nghĩa tư bản bóc lột và bất công tới thiết chế xã hội xã hội chủ nghĩa công bằng về xã hội và nhân đạo;

(10) Bước ngoặt chín muồi một cách khách quan được thực hiện một cách chủ quan sang con đường của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trong những biểu hiện cụ thể khác nhau và trong những phương án thực tiễn với những đặc trưng bản chất và chủ yếu.

(11) Mục tiêu cao nhất của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là sự phát triển tự do, toàn diện, hoàn thiện của con người; sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện phát triển tự do của mọi người.

          Theo ông, bản thân chủ nghĩa Mác có thể phát triển hoàn toàn sáng tạo. Vấn đề chủ yếu trong tương lai là phải gìn giữ thường xuyên và không ngừng mở rộng, phát triển, làm cho sâu sắc thêm cái bản chất, thực chất, tinh thần sống, sức sống, năng lực và niềm tin vĩ đại, niềm tin không lung lay vào sức mạnh và sự nghiệp vĩ đại của con người và của các dân tộc, vào mục tiêu tuyệt vời của họ, vào sự khát khao tiến lên phía trước, hướng về tương lai một cách lạc quan, đó là những điều vốn có ngay từ đầu của chủ nghĩa Mác. Đó là niềm tin, là sự bất biến, là triển vọng và tương lai của chủ nghĩa Mác sáng tạo, đầy sức sống. (tr.129).

* Trong bài “Chủ nghĩa cộng sản và cách mạng” (tr.317-326), VASILIJ COLTASHOV đã khẳng định giá trị khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin: “Chỉ có chủ nghĩa Mác, dựa trên những tri thức khoa học toàn diện mới xây dựng nên chủ nghĩa cộng sản khoa học” (tr.317).

* BORIS KAGARLITXKIJ, trong bài “Sự trở về với chủ nghĩa Mác” đã phê phán thái độ phản bội, phản khoa học của giới học thuật Nga khi đã loại bỏ chủ nghĩa Mác “một cách có hệ thống” ra khỏi hệ thống giáo dục. “Các nhà tư tưởng của Đảng, trong chốc lát trở thành những người thành thạo cái nghề của người chống cộng, không thể đứng được trong các cuộc tranh luận nghiêm túc về lý luận chứ chưa nói đến là sáng tạo đổi mới. Vì thế, mọi vấn đề được giải quyết một cách đơn giản. Loại bỏ những lý luận không có lợi ra khỏi các chương trình học tập, ném những cuốn sách vào đống giấy lộn” (tr.242).

          Đến cuối thập niên 1990, ở Nga, tình hình đã thay đổi, lý luận mác xít bắt đầu được quay trở lại các chương trình giảng dạy thì người ta phát hiện ra một điều rằng, “tại một nước mà trong phần lớn thế kỷ XX tự tuyên bố là thành trì của “chủ nghĩa Mác-Lênin” lại không có nhiều người có thể đứng ra giảng giải rằng vấn đề là nói về cái gì...” (tr. 243). “Thật là nghịch lý, hầu như tất cả số không nhiều những người trẻ tuổi ở Nga vào cuối những năm 1990, những người có được những tri thức về chủ nghĩa Mác, lại được học tập ở phương Tây, đặc biệt là ở Mỹ, nơi mà lý luận của Mác là một trong những môn học cơ bản của xã hội học” (tr.245).

Boris Kagarkitxkij khẳng định, “chủ nghĩa Mác là bộ phận không tách rời của cả hệ thống các khoa học xã hội hiện đại, nên việc loại nó ra khỏi nếp sống xã hội đã và sẽ dẫn tới sự hỗn loạn về phương pháp luận” (tr.243).

Chủ nghĩa Mác là “công cụ lý luận cần thiết cho sự nhận thức và phê phán chủ nghĩa tư bản. Nhưng đó còn là lý luận đem lại sự định hướng cho tất cả những ai chuẩn bị đấu tranh với hệ thống đó, đem lại ý niệm về việc xã hội mới sẽ phải như thế nào”. (tr.248)

* Trong bài “Phải chăng chủ nghĩa Mác đã chết?” (tr.165-177), S. G. KARA-MURZA cũng đã phê phán các tư tưởng cơ hội, phủ nhận chủ nghĩa Mác.

2.2. Những khuyết tật, nguyên nhân sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội xô viết trong sách “Những tranh luận của các học giả Nga về chủ nghĩa xã hội”

Các tác giả đã phân tích những nguyên nhân dẫn tới sự sụp đổ của nhà nước xã hội chủ nghĩa xô viết. Có thể khái quát một số nguyên nhân chủ yếu sau:

2.2.1. Một trong những nguyên nhân dẫn tới sự sụp đổ của nhà nước xã hội chủ nghĩa xô viết là vấn đề dân chủ.

+ Những nguyên tắc cơ bản của chính nền dân chủ xã hội chủ nghĩa “đã không được thực hiện trong cuộc sống (cho dù có tuyên bố) (ALECXEI PRIGARIN - tr.20).

+ Chưa nhận thức đúng vai trò của dân chủ trong xây dựng chủ nghĩa xã hội.

+ Chưa nhận thức đúng vai trò của dân chủ tư sản và mối quan hệ giữa dân chủ vô sản và dân chủ tư sản.

2.2.2. Sự “phá vỡ hệ thống là hậu quả của việc những khâu cơ bản bảo đảm sức sống cho nó đã bị già cỗi và không được đổi mới kịp thời” (ALECXEI PRIGARIN (tr.19).

Cương lĩnh của Đảng SKP-KPSS nêu rõ: “Quan hệ sản xuất xơ cứng, quyền lực chính trị cực quyền đã trở thành cái kìm hãm lực lượng sản xuất, tác động làm tha hóa ý thức xã hội và đạo đức” (tr.19).

2.2.3. Duy trì quá lâu mô hình quản lý tập trung cao độ “(trong một số thời kỳ là chuyên quyền, có khi là độc tài và ở những năm cuối là hành chính - quan liêu)” (ALECXEI PRIGARIN - tr.20).

Theo ALECXEI PRIGARIN (tr.24), hệ thống quản lý tập trung, nghiêm ngặt, có thể gọi là hệ thống tàn bạo làm nảy sinh mâu thuẫn chủ yếu là chính quyền không được kiểm soát từ dưới lên, chính quyền đó “tất yếu sẽ tách rời dân, bắt đầu sống bằng những lợi ích riêng, “sẽ bị han gỉ”, theo lời của Lênin”. Hệ thống đó đã “loại bỏ khả năng nhân dân tham gia xây dựng và tự quyết định và ngược lại, dạy cho họ tuân theo chính quyền một cách ngoan ngoãn. Và đây chính là một trong những nguyên nhân của sự chịu đựng lâu dài của nhân dân” (tr.24-25).

2.2.4. Sai lầm chủ quan, duy ý chí, xa rời nguyên lý Mác-Lênin

* S. G. KARA-MURZA, trong bài “Phải chăng chủ nghĩa Mác đã chết” đã nêu rõ nguyên nhân này: “...khi Đảng Cộng sản toàn Nga Bônsêvích đã giành được uy tín lớn, còn Liên Xô thì trở thành siêu cường, thì giới lãnh đạo cao cấp của chúng ta đã có thể tuyên bố về một hệ thống của mình là chủ nghĩa xã hội duy nhất đúng (chủ nghĩa xã hội chiến thắng, chủ nghĩa xã hội hiện thực, chủ nghĩa xã hội chín muồi,...). Trong khoa học xã hội đã hình thành một quan điểm nông cạn về chủ nghĩa xã hội nói chung và các hình thái phi tư bản chủ nghĩa của chế độ xã hội” (tr.166).

2.2.5. Sự phản bội chủ nghĩa Mác-Lênin của một số lãnh đạo cao cấp chủ trương cải tổ (trong đó có nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và là nhà tư tưởng chính của đám phản cách mạng tự do - A. Iacovlev).

“Các nhà tự do chủ nghĩa Nga vẽ chủ nghĩa xã hội chỉ bằng những gam màu đen tối của các hiện tượng tiêu cực có trong thời kỳ hình thành cách mạng của nó, trong khi lại coi tất cả những tính chất tích cực của hệ thống các quan hệ xã hội chủ nghĩa là không tồn tại” (V.I. LOSKUTOV - tr.93).

Lãnh đạo cao cấp, giới học thuật Nga đã phản bội chủ nghĩa Mác-Lênin, phản khoa học, khi loại bỏ chủ nghĩa Mác “một cách có hệ thống” ra khỏi hệ thống giáo dục (BORIS KAGARLITXKIJ, tr.242).

2.3. Quan điểm đa chiều về các kiểu loại chủ nghĩa xã hội hiện nay

Các học giả Nga đưa ra nhiều đề xuất về tên gọi chủ nghĩa xã hội mới:

- Chủ nghĩa xã hội mới: V.G. Matreev (tr.29); Alecxandr Dughin (tr.39); A. Iaroslavtxev (tr.65); Emin Dabaghian, Alecsandr Cuzmishev (tr.85); Caraev A. K (tr.161);

- Chủ nghĩa xã hội thế kỷ XXI: Gavrill Popov (tr.59);

- Chủ nghĩa xã hội dân chủ: A. Iaroslavtxev (tr.65);

- Chủ nghĩa xã hội nhân dân: Caraev A. K (tr.161);

- Chủ nghĩa xã hội vô sản: M. Bogdanov (tr.356).

Có thể khái quát chủ nghĩa xã hội với những tên gọi nêu trên thành mấy loại quan điểm như sau:

2.3.1. Phân biệt chủ nghĩa xã hội mới với mô hình chủ nghĩa xã hội Liên Xô, chủ nghĩa xã hội kiểu bônsêvích, có những quan điểm về chủ nghĩa xã hội như sau:

* V.G. MATREEV, trong bài “Chủ  nghĩa xã hội mới là một tất yếu lịch sử” cho rằng, “chủ nghĩa xã hội mới phải không có gì giống với sự thử nghiệm bônsêvích trên nhân dân Nga, với thực tiễn của Đảng Cộng sản Liên Xô về chính những vấn đề có tính nguyên tắc. Cái mới thể hiện ở chỗ thái độ đối với lịch sử và văn hóa Nga với những di sản tinh thần, kể cả những di sản của chủ nghĩa xã hội chính thống, đối với các hình thức sở hữu,... và điều chủ yếu là thái độ đối với con người. Chủ nghĩa xã hội mới phải kiên quyết rời bỏ thế giới quan, di sản và thực tiễn bôn sê vích - trốtxkít của những người cộng sản giáo điều” (tr.32).

* ALECXANDR DUGHIN, trong bài “Chủ nghĩa xã hội mới” cho rằng, “Chủ nghĩa xã hội - có thể hiểu được về mặt lịch sử, tách rời những giáo điều mác xít hẹp hòi, đối lập với “chủ nghĩa kinh tế” - là một xu hướng tư tưởng khoa học có nhiệm vụ tìm ra lối thoát từ ngõ cụt về hệ tư tưởng và kinh tế, chỉ ra những hiệu chỉnh mới, hướng tới một cơ cấu xã hội có trách nhiệm, công bằng và có nhân phẩm” (tr.43).

* S. G. KARA-MURZA, trong bài “Phải chăng chủ nghĩa Mác đã chết” đã phân biệt chủ nghĩa xã hội mới với mô hình chủ nghĩa xã hội Liên Xô, một mô hình mà giới lãnh đạo cấp cao của Liên Xô cũ đã tuyên bố “về một hệ thống của mình là chủ nghĩa xã hội duy nhất đúng (chủ nghĩa xã hội chiến thắng, chủ nghĩa xã hội hiện thực, chủ nghĩa xã hội chín muồi,...). Trong khoa học xã hội đã hình thành một quan điểm nông cạn về chủ nghĩa xã hội nói chung và các hình thái phi tư bản chủ nghĩa của chế độ xã hội” (tr.166).

2.3.2. Phân biệt chủ nghĩa xã hội mới với chủ nghĩa tư bản tự do, có quan điểm về chủ nghĩa xã hội mới khá hòa hợp với những tư tưởng về con đường thứ ba như sau:

* V.G. MATREEV, trong “Chủ nghĩa xã hội mới là một tất yếu lịch sử” cho rằng, “chủ nghĩa xã hội ở Nga phải là chủ nghĩa xã hội với chất lượng mới... Chủ nghĩa xã hội mới ở Nga sẽ được hòa hợp với những tư tưởng về “con đường thứ ba” mà Liên hợp quốc đã lựa chọn trong một loạt các văn kiện được mang tên “Chương trình nghị sự cho thế kỷ XXI”. Bản chất của nó là nhân đạo hóa đời sống kinh tế - xã hội của con người, bảo đảm sự kiểm tra thực sự hiệu quả việc sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên của hành tinh cho lợi ích của toàn nhân loại; bảo đảm các quyền và sự tự do của các công dân, bảo vệ dân chúng về mặt xã hội trên cơ sở các truyền thống và giá trị dân tộc, lợi ích của an ninh quốc gia” (tr.33).

2.3.3. Quan niệm chủ nghĩa xã hội mới đồng nhất, hoặc tương đồng với chủ nghĩa xã hội dân chủ

* Theo GAVRIN POPOV (tr.61-64), Trong chủ nghĩa xã hội thế kỷ XX, đặc biệt là trong phương án xã hội - dân chủ, vấn đề trung tâm là về sự bổ trợ, sự trợ cấp, nói tóm lại, là sự cho không. Chủ nghĩa xã hội mới không phải là hướng vào cuộc sống nương nhờ xã hội, đòi hỏi sự giúp đỡ mà là hướng vào con người cũng cần sự giúp đỡ nhưng không phải là ở dạng lợi ích và ưu đãi tiêu dùng mà là sự hỗ trợ có thể giúp con người thể hiện tính tích cực của mình, thực hiện sự sáng tạo của mình. Và một trong những hình thức trợ giúp chủ yếu - đó là sự giúp đỡ để họ thành thạo nghề nghiệp, có lương cao hơn, sự hỗ trợ trong việc giúp đỡ đào tạo để chuyển sang dạng lao động khác, trong các ngành và các khu vực có triển vọng”. (tr.60-61)

Ông nêu 3 nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa xã hội mới là:

- Quyền và sự tự do của con người. Đối với người lao động trí óc, vấn đề tự do cũng rất cấp thiết như vấn đề giáo dục, học vấn. Bởi vậy các phạm trù "chủ nghĩa tự do", "tính cá nhân" sẽ trở thành gần gũi với xã hội mới.

- Chế độ dân chủ của nhà nước. Chủ nghĩa xã hội mới phản ánh lợi ích của giai cấp trung gian, sẽ đấu tranh cho tính độc lập chân chính cả cả tòa án và truyền hình. Tính độc lập đối với chính quyền, đối với tiền bạc. Dân chủ - chính là sự bảo vệ quần chúng trước những võ đoán của các phương tiện thông tin.

- Đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau. Đoàn kết trong chủ nghĩa xã hội thế kỷ XXI đó cũng là sự giúp đỡ, quan tâm của tất cả đối với mỗi người. Nhưng đó là sự chăm lo đến học hành, đến đào tạo con người đến việc khơi dậy những tiềm năng cá nhân của con người khắc phục những khó khăn của cuộc sống"

Theo Gavrin Popov, tất cả các nguyên tắc chủ yếu của chủ nghĩa xã hội thế kỷ XX - bình đẳng, công bằng, đoàn kết - đều tồn tại ở thế kỷ XXI, nhưng các nguyên tắc đó được thực hiện theo cách mới, mang những đặc trưng mới, bảo đảm cho địa vị của chủ nghĩa xã hội cả trong xã hội mới, xã hội hậu công nghiệp. (tr.61-64).

* ALECXEI PRIGARIN trong “Chủ nghĩa xã hội và dân chủ” nêu quan điểm của Đảng của nền dân chủ hiện thực về chủ nghĩa xã hội (Đảng SKP-KPSS): “Mục tiêu của Đảng là xây dựng một xã hội mà ở đó các quyền chính trị của công dân và các tập thể lao động được đảm bảo không chỉ về mặt pháp lý mà cả trong thực tế; tất cả các cơ quan công quyền đều có trách nhiệm báo cáo trước nhân dân; tạo các điều kiện cho sự tự do sáng tạo trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người.

Việc thừa nhận nền dân chủ về chính trị và sản xuất là kết quả tự nhiên của sở hữu xã hội và đồng thời là điều kiện để thực hiện nó một cách hiệu quả ở trình độ phát triển hiện nay của xã hội, là điều phân biệt SKP-KPSS với các tổ chức “cực tả” coi chuyên chế là phương tiện duy nhất cho các cuộc cải tạo cách mạng đối với xã hội (trích từ Cương lĩnh SKP-KPSS)” (tr.17-18).

Theo Alecxei Prigarin, “nhiệm vụ của những người cộng sản - không phải là thủ tiêu dân chủ, thậm chí là nền dân chủ què quặt hiện nay, mà là phát triển nó, xóa bỏ tính chất tư sản của nó, kết liễu chế độ chiếm hữu tư nhân” (tr.28).

* A. IAROSLAVTXEV trong “Trên con đường tiến tới chủ nghĩa xã hội mới” đã đồng nhất chủ nghĩa xã hội mới với chủ nghĩa xã hội dân chủ: “Đó là một xã hội với nền kinh tế nhiều thành phần, định hướng xã hội, với sự điều chỉnh của nhà nước đối với thị trường vì lợi ích của nhân dân và với sự kiểm tra của các tổ chức xã hội được trao sứ mệnh bảo đảm tính đạo đức của lợi nhuận, chủ nghĩa nhân đạo, đoàn kết và công bằng xã hội trước tính vị kỷ của cá nhân và nhóm” (tr.65).

Chủ nghĩa xã hội dân chủ - đó là nguyên tắc đạo đức, tinh thần, đối lập với chủ nghĩa vụ lợi, bất nhân không kìm nén được, đối lập với sự đam mê cá nhân chủ nghĩa của xã hội tư bản chủ nghĩa thuần túy” (tr.65).

"Chủ nghĩa xã hội dân chủ đối lập với hệ thống quan liêu chuyên quyền và chủ nghĩa tư bản. Đó là quan điểm về chủ nghĩa xã hội trên cơ sở mới có tính đến kinh nghiệm của lịch sử thế giới và những điều kiện lịch sử hiện đại. Chủ nghĩa xã hội dân chủ đó là chủ nghĩa xã hội nhân đạo, trong đó con người được đặt vào vị trí trung tâm của sự phát triển.

... Chủ nghĩa xã hội dân chủ, đó là một xã hội của công bằng xã hội, trong đó mỗi con người đều được bảo đảm bình đẳng về khả năng và mọi người đều được tạo điều kiện cho phép họ phát triển tự do và thực hiện tất cả tài năng và năng lực của mình có lợi cho xã hội.

....Công bằng xã hội, bình đẳng xã hội và cả những nguyên tắc dân chủ đều là những nguyên tắc căn bản, cơ sở của chủ nghĩa xã hội dân chủ” (tr.66-68).

2.3.4. Quan điểm về chủ nghĩa xã hội mới giống quan điểm chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản

“Chủ nghĩa xã hội mới, nếu như nó muốn hướng vào người lao động, vào đa số nhân dân thì nó phải dựa vào tầng lớp trung gian. Chủ nghĩa xã hội của thế kỷ XXI - đó là chủ nghĩa xã hội của tầng lớp trung gian" (tr.59). - GAVRIIL POPOV trong bài “Về chủ nghĩa xã hội thế kỷ XXI”.

2.3.5. Quan niệm về chủ nghĩa xã hội thời kỳ hậu tư bản chủ nghĩa

Trong “Chủ nghĩa xã hội mới: cái nhìn vào tương lai” CARAEV A. K. cho rằng: “Chủ nghĩa xã hội mới là xã hội hậu tư bản chủ nghĩa, phát triển hơn so với chủ nghĩa tư bản về công nghệ, kinh tế và chính trị. Nó nắm lấy tất cả những gì tốt nhất đã được nền văn minh thế giới tích lũy trong lĩnh vực công nghệ và tổ chức sản xuất, cũng như lĩnh vực các quan hệ xã hội, chính trị và văn hóa, kể cả trình độ phát triển dân chủ của chủ nghĩa đa nguyên chính trị, bảo vệ dân chúng về mặt xã hội, giáo dục và khoa học” (tr.161-162).

2.4. Những quan điểm mơ hồ, phủ nhận nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về chủ nghĩa xã hội

* ALECXANDR DUGHIN, trong Bài giảng tại Đại học Tổng hợp quốc gia Matxcơva “Chủ nghĩa xã hội mới” đã đưa ra 9 nguyên lý, lý luận cơ bản của chủ nghĩa xã hội mới (tr.56-57) và khẳng định: "Nếu những quy luật cơ bản của chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa tư bản là quy luật thị trường, còn nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội giáo điều là kế hoạch thì quy luật chủ yếu của lý thuyết có tính lựa chọn của chủ nghĩa xã hội mới sẽ là nguyên tắc "sự phụ thuộc của kinh tế vào xã hội" (tr.58).

* Theo GAVRIIL POPOV trong bài “Về chủ nghĩa xã hội thế kỷ XXI”, "Chủ nghĩa xã hội thế kỷ XX hướng vào giai cấp công nhân, cho rằng chỉ có công nhân mới là những người lao động chân chính. Tất cả các tầng lớp lao động khác đều sẽ dần chuyển thành công nhân.

Chủ nghĩa xã hội mới trong thế kỷ XXI, hướng tới xã hội, ở đó giai cấp công nhân thường xuyên giảm tỷ lệ của mình. Các phạm trù khác về người  lao động trở thành phổ biến nhất. Và chủ nghĩa xã hội mới, nếu như nó muốn hướng vào người lao động, vào đa số nhân dân thì nó phải dựa vào tầng lớp trung gian. Chủ nghĩa xã hội của thế kỷ XXI - đó là chủ nghĩa xã hội của tầng lớp trung gian" (tr.59).

Gavriil Popov đồng tình với quan điểm của với G.G. Dilighenski trong cuốn “Những con người thuộc tầng lớp trung gian” rằng, “tầng lớp trung gian là sự lựa chọn đối với các giai cấp đối kháng. Tầng lớp đó không giàu cũng không nghèo. Nó chẳng bóc lột ai và cũng không bị ai bóc lột. Nó chẳng ham muốn giàu có và quyền lực. Nó cần thu nhập đảm bảo đời sống ổn định, đảm bảo tự do cá nhân. Sự quan tâm chủ yếu của nó là gia đình. Tầng lớp trung gian là yếu tố chủ yếu của sự hài hòa xã hội, là cơ sở của sự ổn định xã hội.

Tất cả những nét đặc trưng đó của tầng lớp trung gian ảnh hưởng tới hệ tư tưởng của chủ nghĩa xã hội mới. Chủ nghĩa xã hội mác xít trước đây cũng không phải là hệ tư tưởng của tầng lớp bần hàn trong xã hội. Nó định hướng tới giai cấp hoàn toàn không phải là nghèo nhất và không hạnh phúc nhất. Chủ nghĩa xã hội mới cuối cùng là gắn mình với những người lao động sung túc và tích cực - những người muốn và có khả năng bảo đảm cuộc sống bằng những nỗ lực của chính mình” (tr.60).

"Thay thế cho quan điểm Mác-Lênin bằng một quan điểm mới, trong đó đạo đức không phải là kết quả của những nhiệm vụ của chủ nghĩa xã hội mà ngược lại, đạo đức lại đi trước những nhiệm vụ đó và hạn chế chúng. Và trong quan điểm mới này về đạo đức, chủ nghĩa xã hội mới về cơ bản tiếp cận với những gì đã làm được và đã phát triển trong các hệ tư tưởng tôn giáo" (tr.62).

"Chủ nghĩa xã hội mới thế kỷ XXI mở rộng căn bản quan niệm công bằng của bất bình đẳng. Nó không hạn chế bởi lĩnh vực lao động và tiền công nhưng thừa nhận là công bằng đối với mọi bất bình đẳng, là tất yếu khách quan đối với xã hội hậu công nghiệp" (tr.63).

* Theo V. I. LOSKUTOV (GS.TSKH. Kinh tế, Trưởng khoa Lý thuyết kinh tế và Kinh tế ngành, trường Đại học Kỹ thuật Quốc gia Murmansk) trong “Tiến lên, đến chủ nghĩa xã hội, tiến tới xã hội dân chủ” thì “chủ nghĩa xã hội mới không có hệ tư tưởng, nó gắn chặt với hoàn cảnh. Chính "hoàn cảnh không thể vượt qua là sự phát triển và lạc hậu của hệ thống thị trường" (tr.156).

* Theo CARAEV A. K., trong “Chủ nghĩa xã hội mới: cái nhìn vào tương lai”, trong “mô hình chủ nghĩa xã hội mới có nền dân chủ rộng rãi của xã hội, bao gồm cả sự tồn tại cả tính đa nguyên về chính trị và tư tưởng,...

Tính tích cực của chế độ đại nghị, tính đa nguyên về chính trị, sự tồn tại tự do ngôn luận và tín ngưỡng, sự cạnh tranh của các tư tưởng được chúng tôi coi là những thông số tự nhiên của cuộc sống xã hội văn minh, hiện đại” (tr.163).

3. Lời kết

Khảo cứu qua các tranh luận của các học giả Nga, chúng ta thấy, từ nhận thức tư tưởng đến hành động đều không giống nhau, đa dạng, phức tạp, khó thống nhất và hỗn loạn. Việc khẳng định rằng, không thể có một chân lý về một cái gì đó, bởi mỗi người đều có chân lý của mình, và do đó, sẽ có nhiều chân lý về một cái gì đó đã góp phần gây ra sự hỗn loạn trong nhận thức xã hội. Chỉ có thể thoát ra khỏi sự hỗn loạn trong nhận thức xã hội khi và chỉ khi những người quan tâm đến việc làm sao để không có sự hỗn loạn trong đầu óc người Nga tuân theo lời khuyên của R. Descartes: “Hãy xác định các khái niệm trong khoa học và bạn sẽ thoát ra khỏi những nhầm lẫn và những tranh luận vô bổ. Hãy phân tích ý nghĩa của từ ngữ và bạn sẽ giải thoát nhân loại khỏi một nửa những lo nghĩ”(2).

Chính từ thực tiễn đó, những nhà chính trị và những học giả chân chính trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin luôn coi công tác tư tưởng, công tác lý luận đóng vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng. Bởi lẽ, không chỉ uy tín, ảnh hưởng mà cả sự vững chắc về tư tưởng, về tổ chức của Đảng Cộng sản chân chính đều phụ thuộc vào công tác tư tưởng, lý luận. Tình trạng hỗn độn về lý luận ở Liên Xô trong thời gian dài tất yếu dẫn tới hệ quả hỗn độn trong hành động thực tiễn. Lênin từng cảnh báo “không có lý luận cách mạng thì không thể có phong trào cách mạng”. Ở nước Nga hiện nay, công tác lý luận, đấu tranh lý luận là rất cần thiết, có thể nói là bức thiết để khắc phục tình trạng “đa nguyên cộng sản”, khắc phục chủ nghĩa bè phái. Nhiều học giả đang sôi nổi tranh luận và yêu cầu phải đặt phong trào cộng sản trên cơ sở lý luận mácxít. Họ yêu cầu công tác lý luận cần được triển khai một cách toàn diện, tức là cần vạch trần âm mưu của hệ tư tưởng tư sản, cũng như mọi luận thuyết khi chúng ra sức chứng minh “tính phi khoa học của chủ nghĩa xã hội” và “sự vĩnh cửu, trường tồn” của chủ nghĩa tư bản. Cần đập tan tư tưởng sai trái cho rằng, sở hữu tư nhân là cơ sở của tự do, còn sở hữu xã hội là cội nguồn của độc tài, chuyên chế. Cần tập trung phân tích một cách khách quan trên tinh thần phê phán một cách khoa học nguyên nhân sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô cũng như cần nghiên cứu, luận giải những vấn đề của chủ nghĩa tư bản đương đại, vấn đề dân tộc trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, tiến trình xác lập chuyên chính vô sản và phá bỏ bộ máy nhà nước tư sản như là cơ sở xây dựng chính quyền xã hội chủ nghĩa đích thực của nhân dân. Cần nghiên cứu sâu hơn về hình thức, nội dung, mô hình, đặc trưng của chủ nghĩa xã hội khoa học. Cần tập trung nghiên cứu sâu hơn về công tác xây dựng Đảng Cộng sản chân chính, công tác tuyên truyền, giáo dục quần chúng nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tức là, phải ý thức sâu sắc về lời căn dặn của Lênin: “Từ khi trở thành khoa học, lý luận chủ nghĩa xã hội đòi hỏi phải được đối xử như một khoa học, tức là phải được nghiên cứu”(3). Hơn thế, lý luận chủ nghĩa xã hội đòi hỏi cần được phát triển, vì trong trường hợp ngược lại nó sẽ biến thành tôn giáo, giáo điều, bất biến. Chính vì những lẽ đó mà cuộc tranh luận về quá khứ, hiện tại và tương lai của chủ nghĩa xã hội của các học giả trên thế giới những năm đầu thế kỷ XXI trở nên sôi động.

Trong bối cảnh mới, suy ngẫm về những tranh luận của các học giả Nga về chủ nghĩa xã hội có thể gợi mở cho chúng ta nhiều căn cứ khoa học mới, ý tưởng mới về con đường tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Đảng ta đã lựa chọn./.

 

GVCC, PGS.TS. Lê Văn Toan, UVBCH Hội đồng Hòa bình và Phát triển Việt Nam

Tài liệu tham khảo và chú thích

1. Ph. Ăngghen: “Thư gửi K. Shmidt”, 1890. Dẫn theo A. Prigarin. Chủ nghĩa xã hội, cuộc tranh luận về quá khứ và tương lai, www.polit.lv, ngày 20.1.2005.

2. R. Descartes. Dẫn theo B. Vinokurov: “Xây dựng lý luận hiện đại về chủ nghĩa xã hội khoa học”, Kommunist, 2006, N04. St. 84-98.

3. Lênin: Toàn tập, t.45, tr.344, bản tiếng Nga, xuất bản lần thứ 4.