A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

VIỆT NAM - ẤN ĐỘ: TỪ TẦM CAO QUAN HỆ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC TOÀN DIỆN TĂNG CƯỜNG NHÌN LẠI 10 NĂM QUAN HỆ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC TOÀN DIỆN (2016-2026)

Lời Ban biên tập: Quan hệ Việt Nam – Ấn Độ đang bước vào một giai đoạn phát triển mới với việc hai nước nâng cấp lên “Đối tác chiến lược toàn diện tăng cường”. Nhìn lại 10 năm quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện (2016–2026), bài viết phân tích những nền tảng, thành tựu nổi bật trên các lĩnh vực chính trị – ngoại giao, quốc phòng – an ninh, kinh tế – thương mại, khoa học – công nghệ, văn hóa – giáo dục và giao lưu nhân dân; đồng thời đề xuất những định hướng nhằm đưa quan hệ hai nước đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả hơn trong giai đoạn mới.

Lễ đón chính thức Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm cấp Nhà nước Cộng hòa Ấn Độ- Ảnh 3.

Tổng thống Droupadi Murmu và Thủ tướng Narendra Modi đồng chủ trì Lễ đón trọng thể Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm cấp Nhà nước tới Cộng hòa Ấn Độ - Ảnh: TTXVN

Chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến Ấn Độ từ
ngày 5 đến 7/5/2026 đã gặt hái nhiều kết quả vượt trội. Hai bên tuyên bố nâng
cấp quan hệ từ “Đối tác chiến lược toàn diện” lên “Đối tác chiến lược toàn diện
tăng cường”. Hai bên đánh giá cao những thành quả hơn 50 năm quan hệ song
phương, 10 năm Đối tác chiến lược toàn diện và khẳng định cùng dành ưu tiên
cao cho phát triển quan hệ song phương trên tinh thần “chia sẻ tầm nhìn, hội tụ
chiến lược và hợp tác thực chất”, đưa hợp tác hai nước đi vào chiều sâu trên tất
cả các lĩnh vực, đặc biệt là 5 trụ cột nền tảng: chính trị, ngoại giao; quốc phòng,
an ninh; kinh tế, thương mại; khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển
đổi số; văn hóa, giáo dục, giao lưu nhân dân. Đánh giá về chuyến thăm Ấn Độ
của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, nhiều chính khách, học giả, truyền
thông trong, ngoài nước đều cho rằng, đây là sự kiện có ý nghĩa đặc biệt diễn
ra đúng dịp hai nước kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn
diện. Kết quả chuyến thăm sẽ tạo động lực mới cho mối quan hệ song phương,
mở ra hướng hợp tác mới giữa hai nước.
Từ tầm cao của quan hệ “Đối tác chiến lược toàn diện tăng cường” nhìn
lại những kết quả đạt được của 10 năm quan hệ “Đối tác chiến lược toàn diện”
(2016-2026) để thấy được nguyên nhân của sự phát triển bền vững, thủy chung,
tạo đà cho Việt Nam - Ấn Độ nâng cấp quan hệ trong bối cảnh mới.
1. Cơ sở và nền tảng của quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trong hơn 100
năm qua
1.1. Nền tảng lịch sử - chính trị
Kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh hùng dân tộc, danh nhân văn
hóa thế giới, công bố bài viết đầu tiên của Người về Ấn Độ “Phong trào cách
mạng Ấn Độ” đăng trên Tạp chí La Revue Communist, số 18, 19, tháng 8, 9
năm 1921(1) cùng nhiều bài báo khác viết về Ấn Độ, và năm 1943, khi bị bắt
giam trong nhà tù Tưởng Giới Thạch, Bác viết bài thơ “Gửi Nehru”(2) thì giới
chính khách và nhân dân hai nước Việt Nam - Ấn Độ biết được sự quan tâm
của Bác Hồ với Ấn Độ đã rất sâu đậm. Sau khi Việt Nam và Ấn Độ dành được

*
Giám đốc sáng lập Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ, nguyên Phó Viện trưởng phụ trách Viện
Thông tin khoa học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Giảng viên cao cấp Đại học
Phương Đông.

độc lập, ngay từ những năm 50 của thế kỷ XX, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ
tướng Jawaharlal Nehru đã thiết lập quan hệ giữa hai nước trên tinh thần đoàn
kết Á - Phi và phong trào giải phóng dân tộc. Tại Hội nghị Geneva năm 1954,
Ấn Độ ủng hộ quan điểm của Việt Nam và sau đó tham gia Ủy ban Giám sát
và Kiểm soát quốc tế tại Đông Dương, góp phần giám sát việc thực thi Hiệp
định này. Nội dung làm việc của các chuyến thăm của Thủ tướng Jawaharlal
Nehru đến Việt Nam năm 1954 và chuyến thăm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến
Ấn Độ năm 1958 đã đặt nền móng vững chắc cho quan hệ song phương lâu dài
giữa Việt Nam và Ấn Độ(3).
1.2. Việt Nam và Ấn Độ đã chia sẻ nhiều điểm tương đồng về nguyên
tắc chính trị và đối ngoại
1.2.1. Về tôn trọng độc lập, chủ quyền
Hai nước Việt Nam và Ấn Độ đều kiên định nguyên tắc không can thiệp
vào công việc nội bộ của nhau, tôn trọng độc lập, chủ quyền, tôn trọng lập
trường của nhau trong các vấn đề khu vực và quốc tế. Điều này thể hiện rõ ở
những điểm sau:
Ấn Độ luôn ủng hộ lập trường của Việt Nam về giải quyết tranh chấp
bằng biện pháp hòa bình, đặc biệt là vấn đề Biển Đông, trên các diễn đàn khu
vực và quốc tế. Tại các diễn đàn đa phương như Liên hợp quốc, Hội nghị cấp
cao Đông Nam Á (EAS), hay Đối thoại Shang-ri-la, Ấn Độ luôn ủng hộ lập
trường nhất quán của Việt Nam bằng cách nhấn mạnh tầm quan trọng của tự do
hàng hải, hàng không và việc tuân thủ Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển
năm 1982 (UNCLOS). Trong các tuyên bố chung Việt Nam - Ấn Độ, hai bên
đều “nhấn mạnh mối quan hệ giữa an ninh và thịnh vượng,… tầm quan trọng
của việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh và tự do hàng hải, hàng không tại
Biển Đông, giải quyết hòa bình các tranh chấp theo luật pháp quốc tế, đặc biệt
là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982, không đe dọa
hoặc sử dụng vũ lực”(4).
Ấn Độ luôn tôn trọng chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam thông
qua hợp tác kinh tế - năng lượng.
Ấn Độ ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN và lập trường của Việt Nam
trong các cơ chế khu vực. Trong chính sách Hành động phía Đông (Act East
Policy), Ấn Độ coi ASEAN, trong đó có Việt Nam, là đối tác quan trọng, là trụ
cột, đồng thời ủng hộ các sáng kiến do Việt Nam đề xuất và thúc đẩy khi Việt
Nam giữ vai trò Chủ tịch ASEAN qua các năm 1998, 2010 và 2020(5).
Bên cạnh sự ủng hộ của Ấn Độ đối với lập trường tôn trọng độc lập, chủ
quyền của Việt Nam, Việt Nam cũng thể hiện rõ sự tôn trọng đối với độc lập,
chủ quyền và quan điểm chiến lược của Ấn Độ trong nhiều vấn đề quốc tế.
Việt Nam ủng hộ vai trò, vị thế của Ấn Độ trong các thể chế toàn cầu,
đặc biệt là tại Liên hợp quốc như: “Việt Nam tiếp tục ủng hộ Ấn Độ trở thành
Ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc khi cơ quan này được

mở rộng”(6), trong đó có việc mở rộng vai trò của Ấn Độ với tư cách là ứng cử
viên thường trực. “Việt Nam hoan nghênh Ấn Độ đảm nhiệm vai trò Chủ tịch
BRICS năm 2026”(7). Trong các tuyên bố chung Việt Nam - Ấn Độ, Việt Nam
luôn khẳng định ủng hộ vai trò ngày càng quan trọng của Ấn Độ trong các vấn
đề toàn cầu và ghi nhận đóng góp của Ấn Độ đối với hòa bình và ổn định quốc
tế.
Việt Nam tôn trọng và ủng hộ chính sách đối ngoại độc lập, chiến lược
“tự chủ chiến lược” của Ấn Độ. Ấn Độ luôn theo đuổi đường lối không liên
minh quân sự và duy trì cân bằng quan hệ giữa các nước lớn. Việt Nam ủng hộ
cách tiếp cận “bao trùm và dựa trên luật pháp quốc tế” của Ấn Độ, phù hợp với
lợi ích và quan điểm riêng của New Delhi(8).
Việt Nam tôn trọng lợi ích và hiện diện hợp pháp của Ấn Độ tại các khu
vực chiến lược, đặc biệt là Biển Đông, trong đó có việc Việt Nam tạo điều kiện
thuận lợi cho các hoạt động hợp tác năng lượng của Ấn Độ tại thềm lục địa Việt
Nam như việc Tập đoàn ONGC Videsh tham gia thăm dò dầu khí. Điều này thể
hiện sự công nhận của Việt Nam đối với vai trò và lợi ích chính đáng của Ấn
Độ trong khu vực, đồng thời đảm bảo nguyên tắc chủ quyền và luật pháp quốc
tế(9).
1.2.2. Không liên minh quân sự
Hai nước Việt Nam và Ấn Độ đều theo đuổi đường lối đối ngoại độc lập,
tự chủ, tránh bị ràng buộc bởi các liên minh quân sự mang tính đối đầu.
Với Ấn Độ, nguyên tắc này bắt nguồn từ vai trò sáng lập Phong trào
Không liên kết do Jawaharlal Nehru đề xuất. Tư duy “không đứng về phe nào”
giúp Ấn Độ duy trì sự cân bằng chiến lược giữa các nước lớn.
Với Việt Nam, nguyên tắc này bắt nguồn từ tư tưởng “không có gì quý
hơn độc lập, tự do” của Bác Hồ và chính sách quốc phòng “bốn không” được
khẳng định trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam: không tham gia
liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho
nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ; không sử dụng vũ lực
hoặc đe dọa sử dụng vũ lực(10).
Đường lối nêu trên của hai nước Việt Nam và Ấn Độ làm cho hai nước
có được nền tảng vững chắc đảm bảo chủ quyền chiến lược và tránh bị cuốn
vào cạnh tranh địa chính trị của các cường quốc.
1.2.3. Ủng hộ trật tự quốc tế dựa trên luật pháp quốc tế trong quan hệ
Việt Nam - Ấn Độ
Trong thực tiễn lịch sử, Việt Nam và Ấn Độ đều coi trọng nền tảng chuẩn
tắc của luật pháp quốc tế, coi đây là cơ sở quan trọng để xây dựng và phát triển
các mối quan hệ song phương và đa phương. Cả hai nước đều nhất quán quan
điểm cho rằng, trật tự quốc tế phải dựa trên vai trò trung tâm của Liên hợp quốc,
các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về
Luật Biển năm 1982. Việc tôn trọng và đề cao UNCLOS không chỉ mang ý

nghĩa pháp lý mà còn mang ý nghĩa chiến lược. Bởi vì, chính điều trên không
những tạo ra những khuôn khổ để giải quyết tranh chấp một cách hòa bình mà
còn hạn chế được những hành vi đơn phương áp đặt sức mạnh, từ đó bảo vệ
quyền lợi của các quốc gia vừa và nhỏ. Đây là cách tiếp cận “quyền lực dựa
trên luật pháp” thay vì “quyền lực dựa trên sức mạnh”. Nhìn suốt chiều dài lịch
sử quan hệ Việt Nam - Ấn Độ, tất cả các tuyên bố chung giữa hai nước luôn
nhấn mạnh rằng: hai nước tôn trọng tự do hàng hải, hàng không, không quân
sự hóa các vùng biển, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù hợp
với UNCLOS. Trong các tuyên bố chung nổi bật như việc nâng cấp quan hệ
Đối tác chiến lược (2007), Đối tác chiến lược toàn diện (2016) và các tuyên bố
chung tăng cường hợp tác các năm 2020, 2024, thường xuyên nhấn mạnh “giải
quyết hòa bình các tranh chấp theo luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên
hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), không đe dọa sử dụng hoặc sử
dụng vũ lực”(11).
Những điều trên giúp Việt Nam và Ấn Độ cùng bảo vệ lợi ích quốc gia
mà không cần liên minh quân sự; tăng tính chính danh quốc tế cho các lập
trường về Biển Đông và cân bằng ảnh hưởng của các cường quốc bằng công cụ
pháp lý. Có thể coi đây là chiến lược “chuẩn tắc hóa cạnh tranh”, phản ánh sự
gặp gỡ, đồng thuận giữa tư duy pháp quyền quốc tế và lợi ích chiến lược nói
chung và chiến lược biển nói riêng.
2. Thực trạng và thành tựu trong quan hệ Đối tác chiến lược toàn
diện Việt Nam - Ấn Độ
Thực tiễn quan hệ song phương Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam -
Ấn Độ trong 10 năm qua (2016 - 2026) đã ghi nhận nhiều tiến triển tích cực
trên năm trụ cột cơ bản.
2.1. Hợp tác chính trị - ngoại giao
Sau khi hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện
(2016), Việt Nam và Ấn Độ đã đạt được những bước tiến ấn tượng trong lĩnh
vực chính trị - ngoại giao, thể hiện rõ nét trên ba bình diện chính.
2.1.1. Hai nước thường xuyên duy trì các chuyến thăm, trao đổi đoàn
cấp cao
Một đặc điểm nổi bật là tần suất trao đổi đoàn cấp cao dày đặc, bao gồm
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội Việt Nam đã nhiều
lần thăm Ấn Độ. Tiêu biểu là các chuyến thăm Ấn Độ của Chủ tịch nước Trần
Đại Quang tháng 3/2018, chuyến thăm Ấn Độ của Thủ tướng Chính phủ
Nguyễn Xuân Phúc tháng 1/2018, chuyến thăm Ấn Độ của Chủ tịch Quốc hội
Nguyễn Thị Kim Ngân tháng 12/2016, chuyến thăm Ấn Độ của Thủ tướng
Chính phủ Phạm Minh Chính cuối tháng 7, đầu tháng 8/2024, chuyến thăm Ấn
Độ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tháng 5/2026. Các chuyến thăm
trên nhằm củng cố niềm tin chính trị, tăng cường quan hệ đối tác chiến lược
toàn diện, thúc đẩy hợp tác kinh tế, an ninh, quốc phòng, khoa học công nghệ,
đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và giao lưu văn hóa giữa hai nước.

Lãnh đạo cấp cao Ấn Độ cũng thường xuyên đến thăm Việt Nam. Tiêu
biểu là chuyến thăm của Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi tháng 9/2026,
chuyến thăm này ghi dấu son trong quan hệ Việt Nam - Ấn Độ khi hai nước
nâng cấp quan hệ từ Đối tác chiến lược lên Đối tác chiến lược toàn diện. Các
chuyến thăm cấp cao Việt Nam của Tổng thống Ấn Độ Ram Nath Kovind tháng
11/2018, chuyến thăm Việt Nam của Phó Tổng thống Ấn Độ tháng 5/2019,
chuyến thăm Việt Nam của Chủ tịch Hạ viện Ấn Độ tháng 4/2022 đã góp phần
củng cố, hiện thực hóa việc nâng cấp quan hệ Việt Nam - Ấn Độ.
Các chuyến thăm cấp cao của lãnh đạo Ấn Độ đến Việt Nam nhằm thúc
đẩy, nâng cấp mối quan hệ giữa hai nước, củng cố tin cậy chính trị, khẳng định
sự coi trọng của Ấn Độ đối với chính sách Hành động phía Đông mà Việt Nam
là trụ cột trong chính sách này và thúc đẩy nhiều thỏa thuận, hợp tác quan trọng
trong các lĩnh vực an ninh, quốc phòng, kinh tế, thương mại, khoa học công
nghệ, văn hóa, giáo dục và giao lưu nhân dân.
2.1.2. Hai nước Việt Nam, Ấn Độ phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn đa
phương
Việt Nam và Ấn Độ luôn bày tỏ lập trường nhất quán trong các vấn đề
quan trọng như ủng hộ vai trò của Liên hợp quốc trong duy trì hòa bình và an
inh quốc tế, trong cải cách Hội đồng bảo an Liên hợp quốc và trong phát triển
bền vững. Biểu hiện rõ nhất là tại diễn đàn đa phương, Việt Nam ủng hộ Ấn Độ
trở thành Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc mở rộng; Ấn
Độ ủng hộ Việt Nam ứng cử và đảm nhiệm vai trò ủy viên không thường trực
Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021; Ấn Độ ủng hộ các quan
điểm của Việt Nam về vấn đề Biển Đông; cả hai nước Việt Nam và Ấn Độ cùng
tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc.
Trong Diễn đàn ASEAN, Ấn Độ ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN
trong cấu trúc khu vực, Việt Nam đóng vai trò cầu nối giữa Ấn Độ và ASEAN.
Điểm nổi bật trong hợp tác chính trị, ngoại giao giữa Việt Nam và Ấn Độ
là mức độ tin cậy chính trị cao, ít tồn tại bất đồng chiến lược, không có xung
đột lợi ích trực tiếp, có sự tương đồng cao về nguyên tắc đối ngoại, tôn trọng
chủ quyền, không can thiệp nội bộ, lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng biện
pháp hòa bình.
Hai nước ít tồn tại bất đồng chiến lược vì không tồn tại tranh chấp lãnh
thổ, không có cạnh trảnh ảnh hưởng trực tiếp, lợi ích của hai nước mang tính
bổ trợ nhiều hơn là đối kháng.
Có thể khẳng định, hợp tác chính trị, ngoại giao Việt Nam - Ấn Độ giai
đoạn 2016-2026 mang các đặc trưng nổi bật như: trao đổi đoàn cấp cao thường
xuyên, liên tục, đồng thuận cao tại các diễn đàn đa phương, luôn ổn định và độ
tin cậy chính trị cao. Đây chính là trụ cột nền tảng giúp quan hệ Đối tác chiến
lược toàn diện luôn phát triển bền vững, tạo đà cho phát triển các lĩnh vực khác.
2.2. Hợp tác quốc phòng - an ninh

Trong tổng thể quan hệ Việt Nam - Ấn Độ, hợp tác quốc phòng - an ninh
được coi là trụ cột quan trọng nhất do trực tiếp gắn với lợi ích chiến lược về an
ninh biển, cân bằng quyền lực và ổn định khu vực. Sự hợp tác này thể hiện đậm
nét trên các lĩnh vực sau:
2.2.1. Ấn Độ hỗ trợ đào tạo quân sự cho Việt Nam
Trong nhiều năm gần đây, Ấn Độ đã hỗ trợ đào tạo sĩ quan cho Việt Nam
trên các lĩnh vực hải quân, không quân và công nghệ thông tin quân sự, tác
chiến điện tử. Về hải quân, Ấn Độ đã đào tạo khoảng 550 sĩ quan và thủy thủ
Việt Nam trong các hoạt động tác chiến tàu ngầm. Về không quân, Ấn Độ đồng
ý huấn luyện phi công lái tiêm kích Su-30 cho Việt Nam(12). Các chương trình
đào tạo được thực hiện tại các Học viện quân sự của Ấn Độ. Về công nghệ
thông tin quân sự và tác chiến điện tử, Ấn Độ đã hỗ trợ Việt Nam đào tạo nhiều
cán bộ công nghệ thông tin quân sự. Hai nước đã và đang thúc đẩy mạnh mẽ
hợp tác trong lĩnh vực công nghệ thông tin, điện tử, AI và bán dẫn, hướng tới
đột phá chuỗi cung ứng trong những năm tới. Hai bên tập trung kết nối doanh
nghiệp, phát triển thành phố thông minh và chuyển đổi số(13).
Các hoạt động trên vừa giúp Việt Nam nâng cao năng lực phòng thủ hiện
đại vừa góp phần chuyển giao tri thức và tác chiến điện tử. Đương nhiên là
không tạo nên ràng buộc liên minh quân sự.
2.2.2. Hợp tác hải quân và an ninh biển
Để đảm bảo lợi ích chung của hai nước tại Biển Đông, Việt Nam và Ấn
Độ đã coi hợp tác hải quân là quan trọng. Ấn Độ đã thường xuyên cử tàu hải
quân Ấn Độ đến thăm, tiến hành giao lưu văn hóa tại các cảng Việt Nam, đặc
biệt là cảng Cam Ranh, Đà Nẵng, tổ chức giao lưu sĩ quan hải quân, trao đổi
thông tin an ninh biển(14). Hải quân hai nước thường xuyên tham gia diễn tập
chung, diễn tập hải quân đa phương Milan, diễn tập tìm kiếm cứu nạn, cứu
hộ(15).
Những hoạt động trên giúp hai nước tăng cường năng lực phối hợp trên
biển, góp phần bảo đảm an ninh hàng hải khu vực và xây dựng lòng tin chiến
lược.
2.2.3. Hỗ trợ tín dụng quốc phòng
Trong những năm qua, Ấn Độ đóng vai trò là đối tác hỗ trợ tài chính
quan trọng trong hiện đại hóa quốc phòng của Việt Nam. Ấn Độ đã hỗ trợ gói
tín dụng quốc phòng 100 triệu USD (năm 2014) giúp Việt Nam đóng tàu tuần
tra cao tốc, gói tín dụng quốc phòng 500 triệu USD (năm 2016) giúp tăng cường
năng lực quốc phòng cho Việt Nam(16).
Việc Ấn Độ hỗ trợ quốc phòng đã giúp Việt Nam tự chủ, nâng cao năng
lực quốc phòng và không kèm theo điều kiện liên minh hay ràng buộc quân sự.
2.2.4. Đồng thuận nguyên tắc an ninh biển

Cả Việt Nam và Ấn Độ đều có sự thống nhất cao về các nguyên tắc chiến
lược liên quan đến an ninh biển. Hai bên đều nhấn mạnh tự do hàng hải và hàng
không tại Biển Đông, không cản trở các tuyến vận tải quốc tế. Điều này còn
được thể hiện thống nhất trong các tuyên bố chung Việt Nam - Ấn Độ. Hai nước
đều thống nhất quan điểm giải quyết tranh chấp bằng luật pháp quốc tế như
UNCLOS 1982 và các nguyên tắc của Liên hợp quốc(17). Sự đồng thuận này
tạo điều kiện pháp lý cho hợp tác quốc phòng - an ninh và tăng tính chính danh
quốc tế cho các hoạt động của hai nước trên biển.
Xét một cách tổng thể, hợp tác quốc phòng - an ninh Việt Nam - Ấn Độ
giai đoạn 2016-2026 thể hiện rõ các đặc điểm: thực chất và sâu rộng, dựa trên
luật lệ quốc tế, tập trung vào năng lực phòng thủ. Điều này giúp hai nước tăng
cường năng lực tự vệ, góp phần duy trì ổn định khu vực, đồng thời giữ vững tự
chủ chiến lược trong bối cảnh cạnh tranh địa - chính trị ngày càng gia tăng.
2.3. Hợp tác kinh tế - thương mại
Hợp tác kinh tế - thương mại Việt Nam - Ấn Độ là trụ cột quan trọng.
Hiện tại, Ấn Độ nằm trong nhóm 10 đối tác thương mại lớn của Việt Nam. Đầu
tư 2 chiều tiếp tục mở rộng với gần 500 dự án Ấn Độ đầu tư vào Việt Nam và
30 dự án Việt Nam đầu tư vào Ấn Độ. Hai nước còn nhiều dư địa để mở rộng,
có xu hướng phát triển tốt nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Điều này
thể hiện rõ trên những nét cơ bản sau:
2.3.1. Kim ngạch thương mại song phương tăng trưởng ổn định
Trong giai đoạn hai nước nâng cấp triển khai quan hệ Đối tác chiến lược
toàn diện (2016-2026), thương mại hai chiều giữa Việt Nam - Ấn Độ duy trì đà
tăng trưởng tương đối khá. Trước năm 2016, thương mại hai chiều đạt khoảng
5-6 tỷ USD, đến năm 2025-2026, đã đạt khoảng 16,46 tỷ USD, tăng 10% so
với năm 2024. Trong quý 1 năm 2026, thương mại song phương tiếp tục tăng
trưởng ấn tượng (tăng 28% so với cùng kỳ), cho thấy, trục kinh tế tỷ dân đang
mở khóa. Hợp tác hai nước tập trung vào dệt may, da giày, công nghệ và chuỗi
cung ứng(18). Hai nước đặt mục tiêu nâng thương mại hai chiều lên 25 tỷ USD
vào năm 2030(19).
2.3.2. Các lĩnh vực hợp tác trọng điểm về kinh tế
Hợp tác năng lượng, đặc biệt là thăm dò, khai thác dầu khí tại thềm lục
địa Việt Nam ở Biển Đông luôn được Ấn Độ quan tâm. Công ty ONGC Videsh
luôn duy trì hoạt động thăm dò dầu khí một số lô ở Biển Đông. Ấn Độ còn hỗ
trợ Việt Nam phát triển năng lượng sạch. Hai nước thiết lập Ủy ban hỗn hợp
thúc đẩy hợp tác sử dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình(20). Hoạt
động trên góp phần đảm bảo an ninh năng lượng và khẳng định chủ quyền của
Việt Nam tại Biển Đông theo luật pháp quốc tế.
Hợp tác dược phẩm Việt Nam - Ấn Độ đang chuyển mình mạnh mẽ từ
nhập khẩu thương mại sang hợp tác chiến lược về công nghệ và sản xuất. Ấn
Độ là nhà cung cấp dược phẩm lớn thứ tư của Việt Nam. Ấn Độ đề xuất hợp

tác song phương trên ba trụ cột chính: (1) chuyển đổi mô hình hợp tác từ mua
bán truyền thống sang hợp tác công nghệ; (2) tự chủ nguồn nguyên liệu, tận
dụng lợi thế của Ấn Độ trong chuỗi cung ứng toàn cầu; (3) phát triển sinh phẩm
và vaccine, tập trung chuyển giao công nghệ, sản xuất thuốc đặc trị (như chống
ung thư), xây dựng các trung tâm nghiên cứu tại Việt Nam, nghiên cứu dược
phẩm, thiết bị y tế nhằm hiện thực hóa mục tiêu tự chủ ngành dược vào năm
2030(21).
2.3.3. Một số hạn chế trong hợp tác kinh tế
Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực nhưng hợp tác kinh tế - thương
mại giữa Việt Nam và Ấn Độ trong 10 năm qua vẫn tồn tại một số hạn chế:
Quy mô thương mại hai chiều chưa tương xứng với tiềm năng, kim ngạch
thương mại vẫn còn thấp so với quy mô nền kinh tế của hai nước, tiềm năng
hợp tác trong khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương vẫn còn hạn chế.
Nguyên nhân dẫn đến điều này là do thiếu các hiệp định thương mại sâu rộng
riêng song phương và cũng do doanh nghiệp hai nước chưa khai thác hết thị
trường của nhau.
Kết nối logistics còn hạn chế. Hai bên chưa có nhiều tuyến vận tải biển
và hàng không trực tiếp. Chi phí logistics cao, thời gian vận chuyển dài do
phần lớn hàng hóa phải trung chuyển qua nước thứ ba như Singapore hay
Malaysia,…. Điều này làm giảm hiệu quả thương mại và hạn chế mở rộng chuỗi
cung ứng song phương.
Từ thực trạng trên có thể khẳng định rằng, hợp tác kinh tế - thương mại
Việt Nam - Ấn Độ giai đoạn 2016-2026 thể hiện rõ mấy đặc điểm: (1) tăng
trưởng tích cực ổn định; (2) tập trung vào các lĩnh vực có tính bổ sung cao
(năng lượng, dược phẩm); (3) tồn tại điểm nghẽn về quy mô và kết nối. Điều
này cho thấy quan hệ kinh tế - thương mại song phương đang ở giai đoạn “phát
triển tiềm năng” hơn là “khai thác tối đa”, đòi hỏi hai nước cần đẩy mạnh kết
nối hạ tầng, tăng cường liên kết doanh nghiệp và mở rộng hợp tác chuỗi giá trị
để tương xứng với tầm vóc Đối tác chiến lược toàn diện.
2.4. Hợp tác khoa học - công nghệ, đổi mới, sáng tạo, chuyển đổi số
giữa Việt Nam và Ấn Độ
Hợp tác khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là lĩnh
vực rất nhiều tiềm năng của hai nước. Thực tiễn 10 năm qua, hợp tác song
phương trên lĩnh vực này đã có nhiều tiến triển tích cực.
Việt Nam và Ấn Độ đã ký kết nhiều văn bản thỏa thuận hợp tác song
phương về khoa học - công nghệ, chuyển đổi số.
Năm 2016, Việt Nam và Ấn Độ đã ký kết biên bản ghi nhớ về công nghệ
thông tin. Hàng năm, Ủy ban hỗn hợp về khoa học - công nghệ của hai nước
họp định kỳ để đánh giá tiến triển về hoạt động này. Dấu mốc đáng kể là chuyến
thăm Việt Nam của Thủ tướng Ấn Độ N. Modi (tháng 9/2016), hai bên đã ký
kết 12 văn kiện hợp tác, trong đó có thỏa thuận về hợp tác thăm dò và sử dụng

không gian vũ trụ vì mục đích hòa bình, hợp tác công nghệ thông tin, an ninh
mạng, sử dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình, thỏa thuận về xây
dựng hạ tầng thông tin phục vụ đào tạo công nghệ thông tin chất lượng cao(22).
Tháng 3/2018, Cục Viễn thám quốc gia Việt Nam và Cơ quan Nghiên cứu vũ
trụ Ấn Độ ký thỏa thuận hợp tác xây dựng dự án “Xây dựng Trạm dò tìm, tiếp
nhận dữ liệu và Trung tâm xử lý dữ liệu ảnh vệ tinh”(23). Từ năm 2019 đến nay,
Việt Nam - Ấn Độ ký nhiều thỏa thuận hợp tác khoa học - công nghệ, đổi mới
sáng tạo và chuyển đổi số. Trên cơ sở các thỏa thuận hợp tác, Việt Nam - Ấn
Độ đã triển khai thực hiện rất hiệu quả việc hợp tác trên các lĩnh vực: trao đổi
học tập và nghiên cứu khoa học - công nghệ, hợp tác trong lĩnh vực công nghệ
cao, hợp tác trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử. Hiện nay, Việt Nam - Ấn Độ
cùng xác định khoa học - công nghệ là một trong những hướng đi chiến lược
trong phát triển của hai nước. Trong chiến lược “Ấn Độ tự cường”, Ấn Độ đặt
ưu tiên cho phát triển khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo(24). Việt Nam
chủ trương đẩy mạnh, phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển
đổi số, được thể hiện rõ trong văn kiện Đại hội Đảng khóa XIII, XIV, đặc biệt
là Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công
nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, đây được coi như một bước
mở chiến lược chuyển đổi mô hình phát triển từ dựa vào lao động và vốn sang
dựa vào trí tuệ và công nghệ. Vì có chung mục đích phát triển khoa học - công
nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số nhằm phát triển kinh tế đất nước nhanh,
bền vững nên hai nước có điều kiện thuận lợi để hiện thực hóa nhiều thỏa thuận
song phương trên lĩnh vực này. Chuyến thăm Ấn Độ của Tổng Bí thư, Chủ tịch
nước Tô Lâm từ ngày 5 đến 7/5/2026 đã cùng lãnh đạo cao cấp Ấn Độ nâng
cấp quan hệ Việt Nam - Ấn Độ từ Đối tác chiến lược toàn diện lên Đối tác chiến
lược toàn diện tăng cường, nêu bật đột phá phát triển trong quan hệ song
phương trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có các định hướng chiến lược thúc
đẩy hợp tác, tạo ra đột phá trên các lĩnh vực tiềm năng khoa học, công nghệ,
đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số(25). Ấn Độ là một trong bốn nước Việt Nam có
tham tán, bí thư phụ trách khoa học công nghệ (Pháp, Trung Quốc, Nga và Ấn
Độ). Điều này cho thấy Việt Nam luôn chú trọng hợp tác khoa học công nghệ
với Ấn Độ. Những thỏa thuận hợp tác giữa Việt Nam - Ấn Độ về nhiều lĩnh
vực, trong đó có lĩnh vực khoa học - công nghệ trong chuyến thăm Ấn Độ của
nguyên thủ quốc gia Việt Nam sẽ tạo nên khung khổ mới, đột phá mới về hợp
tác khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số giữa hai nước, giúp
Việt Nam, Ấn Độ đứng vững trên trường quốc tế, tăng sức cạnh tranh về khoa
học công nghệ của Việt Nam và Ấn Độ trong khu vực và trên thế giới.
2.5. Hợp tác văn hóa - giáo dục trong quan hệ đối tác chiến lược toàn
diện Việt Nam - Ấn Độ (2016-2026)
Hợp tác văn hóa - giáo dục Việt Nam - Ấn Độ đóng vai trò như một “trụ
cột mềm”, góp phần củng cố nền tảng xã hội và gia tăng sự bền vững của quan
hệ song phương. Điều này được thể hiện rõ trên các bình diện: cầu nối mềm về
văn hóa, tôn giáo; hợp tác đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học, giao lưu
nhân dân ngày càng mở rộng.

2.5.1. Cầu nối mềm về văn hóa - tôn giáo
Đặc điểm đặc biệt trong quan hệ Việt Nam - Ấn Độ là giao lưu văn hóa
- tôn giáo. Từ hơn 2.000 năm trước Công nguyên, Phật giáo Ấn Độ đã du nhập
vào Việt Nam, được nhân dân Việt Nam tiếp nhận và Việt hóa một phần phù
hợp với tâm thức người Việt nên Phật giáo đã đồng hành với Việt Nam trong
suốt các chặng đường đấu tranh bảo vệ và xây dựng đất nước. Trong 10 năm
qua, giao lưu Phật giáo giữa Việt Nam và Ấn Độ rất phát triển. Các lãnh đạo
cấp cao Việt Nam sang thăm Ấn Độ đã nhiều lần đến thăm đất Phật, các lãnh
đạo Ấn Độ đến thăm Việt Nam luôn quan tâm đến Học viện Phật giáo Việt
Nam, các trung tâm thờ tự, hoạt động Phật giáo ở Việt Nam, tham dự các đại lễ
Vesak Liên hợp quốc tổ chức tại Việt Nam, các tổ chức Phật giáo hai nước luôn
trao đổi, tìm các biện pháp, phương thức hoạt động tốt nhằm thúc đẩy hợp tác
Phật giáo song phương.
Ấn Độ giáo cũng đã được tiếp biến vào Việt Nam từ hơn 2.000 năm
trước. Dấu ấn của sự giao lưu, tiếp biến này còn để lại những đặc sắc văn hóa,
nghệ thuật, kiến trúc, điêu khắc của văn hóa Champa ở khu vực miền Trung và
vùng Nam Trung bộ Việt Nam, điển hình là Thánh địa Mỹ Sơn và văn hóa Óc
eo, những làn điệu dân ca Nam Trung bộ, những chùa chiền, nghi lễ, hoạt động
văn hóa Chăm vẫn được người dân Việt bảo tồn, phát triển. Các hoạt động kỷ
niệm ngày Yoga thế giới hàng năm được tổ chức long trọng tại Việt Nam. Tập
luyện Yoga trở thành món ăn tinh thần yêu thích của người Việt Nam. Trên nền
tảng cội nguồn giao lưu văn hóa Phật giáo và Ấn Độ giáo, hoạt động hợp tác,
giao lưu văn hóa Việt Nam - Ấn Độ trong 10 năm qua được mở rộng trên các
bình diện giao lưu nhân dân, cùng nhau tổ chức các sự kiện văn hóa, gia tăng
chiều sâu bằng các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, truyền thông,….
Dấu ấn quan trọng là từ năm 2019, Trung tâm Văn hóa Ấn Độ Swami
Vivekanda (SVCC) được thành lập tại Hà Nội, luôn tổ chức các sự kiện văn
hóa mang đậm sắc thái Ấn Độ, là nơi tạo điều kiện cho hai nền văn hóa Việt
Nam - Ấn Độ giao lưu, tiếp biến. Từ đó, củng cố niềm tin xã hội, hỗ trợ cho
các hoạt động kinh tế, an ninh, quốc phòng. Trong các tuyên bố chung Việt
Nam - Ấn Độ 10 năm nay bao giờ cũng nhấn mạnh hợp tác văn hóa - giáo dục,
trong đó luôn nhắc đến yếu tố giữ gìn, giao lưu, phát triển tôn giáo giữa hai
nước. Điều này tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai các hoạt động giao lưu gắn
kết văn hóa, tôn giáo giữa hai nước luôn phát triển.
2.5.2. Hợp tác giáo dục - đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học
Giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học là loại hình hoạt động hợp tác
có chiều sâu, gắn với phát triển nguồn nhân lực. Trong 10 năm qua, Việt Nam
- Ấn Độ đã thúc đẩy nhiều hợp tác, tập trung ở các hoạt động trao đổi sinh viên,
đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Các trung tâm giáo dục, các trường đại
học của hai nước đã ký kết nhiều văn bản ghi nhớ, nhiều văn bản hợp tác như:
bản ghi nhớ giữa Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và Đại học Nalanda
trong khuôn khổ chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến Ấn
Độ (tháng 5/2026). Trước đó, ngày 20/11/2018, nhân chuyến thăm của Tổng

thống Ấn Độ Ram Nath Kovind đến Việt Nam, bản ghi nhớ giữa Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và Đại học Jawaharlal Nehru được ký kết.
Trước đó, năm 2016, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã cùng Học
viện Hành chính công Bangalore Ấn Độ thúc đẩy các văn bản hợp tác; ký văn
bản ghi nhớ giữa Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ, Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh với Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á - Thái Bình Dương, Đại
học Sri Venkateswara; ký văn bản hợp tác giữa Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ
Học viện với Quỹ Ấn Độ (tháng 11/2019). Một số trường đại học Việt Nam và
Ấn Độ ký nhiều văn bản hợp tác như: Đại học khoa học xã hội và nhân văn,
Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh với Đại học Nalanda Ấn Độ (tháng
6/2025), Đại học Quốc gia Hà Nội với các Viện Công nghệ hàng đầu Ấn Độ
(tháng 9/2025) và nhiều văn bản hợp tác khác.
Hàng năm, Chính phủ Ấn Độ cung cấp học bổng cho sinh viên Việt Nam
theo các chương trình ITEC (Chương trình hợp tác kinh tế kỹ thuật), EEF
(Chương trình trao đổi giáo dục), MGCSS’ (Kế hoạch hợp tác học thuật
Mekong - Sông Hằng). Các chương trình học bổng này được Việt Nam hưởng
ứng thực hiện đạt nhiều kết quả khả quan.
Giao lưu hợp tác tổ chức các hội thảo khoa học quốc tế giữa Việt Nam -
Ấn Độ cũng rất phát triển. Hàng trăm hội thảo khoa học về các chủ đề nghiên
cứu về quan hệ song phương trên các bình diện: chính trị - ngoại giao, kinh tế
- thương mại, quốc phòng - an ninh, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ
đã được tổ chức tại Việt Nam và Ấn Độ. Hoạt động học thuật này đã thu hút
nhiều chính khách, nhà nghiên cứu hai nước quan tâm trao đổi những nghiên
cứu mới, đóng góp những luận cứ khoa học cho Chính phủ hai nước hoạch định
chủ trương, chính sách phát triển.
Hợp tác nghiên cứu khoa học song phương trong lĩnh vực công nghệ,
năng lượng nguyên tử bao gồm các lĩnh vực công nghệ thông tin, hóa chất,
công nghệ y, sinh, sinh học, nông nghiệp, công nghệ vũ trụ,… được triển khai
bài bản, từng bước tiến triển. Việc hợp tác về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số
cũng được hai nước quan tâm thúc đẩy. Các hợp tác về công nghệ lõi, chip bán
dẫn, trí tuệ nhân tạo, năng lượng nguyên tử, đất hiếm, hóa dầu, năng lượng mới
cũng đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận.
2.5.3. Giao lưu nhân dân ngày càng mở rộng
Trong 10 năm qua, cả Việt Nam và Ấn Độ đều coi giao lưu nhân dân là
một bộ phận cấu thành của ngoại giao văn hóa. Hai nước thường xuyên tổ chức
các hoạt động giao lưu thanh niên, các đoàn nghiên cứu thực tế ở Việt Nam và
Ấn Độ. Tổ chức “Tuần văn hóa Việt Nam tại Ấn Độ”, “Tuần văn hóa Ấn Độ
tại Việt Nam”. Tổ chức các hoạt động liên hoan hữu nghị Việt Nam - Ấn Độ ở
các bang Ấn Độ và các tỉnh, thành phố Việt Nam. Hội Hữu nghị Việt Nam - Ấn
Độ cấp nhà nước và các chi hội các tỉnh, thành được mở rộng và thường xuyên
tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa, xúc tiến hoạt động du lịch. Những hoạt
động trên tạo cầu nối mềm cho hợp tác chính trị, ngoại giao, quốc phòng - an

ninh, kinh tế - thương mại và khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển
đổi số phát triển.
3. Một số giải pháp nâng tầm quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trong kỷ
nguyên mới
Trong bối cảnh mới, biến động địa chính trị khu vực và thế giới nhiều
căng thẳng, xung đột Nga - Ukraine, Mỹ, Israel - Iran phức tạp, cạnh tranh
chiến lược giữa Mỹ, Trung gia tăng, vai trò của Ấn Độ ngày càng nổi bật trong
khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Thế giới đang trong tình trạng tái
cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, kinh tế số, AI, công nghệ cao trở thành động
lực tăng trưởng mới; thách thức an ninh phi truyền thống phức tạp, an ninh
năng lượng biến động lớn. Tất cả những điều đó tạo cho kỷ nguyên mới đứng
trước ba xu hướng lớn: (1) cạnh tranh địa chính trị gia tăng giữa các cường
quốc làm cho vai trò của Ấn Độ ngày càng nổi bật; (2) kinh tế - công nghệ
nhiều biến động, bùng nổ kinh tế số, chuỗi cung ứng toàn cầu dịch chuyển
không ngừng. (3) an ninh phi truyền thống đa dạng, phức tạp hơn. Các xu hướng
trên tạo ra cơ hội mở rộng quan hệ hợp tác Việt Nam - Ấn Độ nhưng cũng đặt
ra những thách thức lớn đòi hỏi Việt Nam, Ấn Độ phải nâng cao năng lực, sức
mạnh tổng hợp quốc gia và linh hoạt thích ứng với mọi tình hình.
Chuyến thăm Ấn Độ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từ 5-
7/5/2026 tạo nên dấu ấn để Việt Nam - Ấn Độ có bước đột phá trong quan hệ
song phương.
Về chính trị-ngoại giao
Hai bên cần hiện thực hóa việc nâng tầm quan hệ song phương lên Đối
tác chiến lược toàn diện tăng cường trên tinh thần “chia sẻ tầm nhìn, hội tụ
chiến lược, hợp tác thực chất”, đưa hợp tác hai nước đi vào chiều sâu(26). Hai
nước cần duy trì tiếp xúc cấp cao thường xuyên, xây dựng cơ chế đối thoại
chiến lược sâu hơn, phối hợp tốt tại các diễn đàn đa phương, tăng tiếng nói
chung, nâng cao vị thế hai nước.
Về quốc phòng - an ninh
Tăng cường hợp tác quốc phòng-an ninh bằng nhiều phương sách như:
mở rộng hợp tác hải quân, phát triển công nghiệp quốc phòng, tăng cường an
ninh mạng,… Trên cơ sở đó đảm bảo tốt an ninh hàng hải; chuyển giao công
nghệ quốc phòng, tăng cường tự chủ chiến lược và đáp ứng yêu cầu kỷ nguyên
số, bảo vệ chủ quyền không gian mạng.
Về kinh tế - thương mại
Cần đột phá trong hợp tác kinh tế bằng nhiều biện pháp: thúc đẩy kết nối
chuỗi cung ứng Việt Nam - Ấn Độ, mở rộng thương mại số, thương mại điện
tử, đầu tư hai chiều vào các lĩnh vực then chốt. “Hợp tác sản phẩm được sâu
rộng hơn; thúc đẩy trao đổi nông sản mang lại lợi ích thiết thực cho người tiêu
dùng của cả hai nước; cập nhật Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN - Ấn
Độ tạo động lực mới cho thương mại và đầu tư giữa Ấn Độ với các quốc gia

ASEAN; chú trọng ổn định chuỗi cung ứng và phát triển hạ tầng; những sáng
kiến hợp tác mới trong lĩnh vực khoáng sản chiến lược, đất hiếm và năng lượng
được kỳ vọng sẽ góp phần củng cố an ninh kinh tế cũng như nâng cao khả năng
phục hồi chuỗi cung ứng của cả hai nước; ưu tiên tăng cường hợp tác giữa các
tổ chức tài chính của cả hai bên”(27).
Về giáo dục, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo
Phát triển hợp tác giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ, trọng tâm
là hợp tác về AI, bán dẫn, chuyển đổi số, xây dựng trung tâm nghiên cứu chung
ở các trường đại học, viện nghiên cứu và các doanh nghiệp. Tăng cường hợp
tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trên các lĩnh vực công nghệ, kỹ
thuật, quản trị hiện đại.
Về giao lưu nhân dân
Đẩy mạnh giao lưu nhân dân bằng cách chú trọng du lịch hai chiều bằng
các biện pháp: mở thêm đường bay trực tiếp, đơn giản hóa thủ tục visa, khai thác
tốt các giá trị của tôn giáo (Phật giáo, Ấn Độ giáo); mở rộng, nâng cấp các Hội
hữu nghị Việt Nam - Ấn Độ, Ấn Độ - Việt Nam; đổi mới các hoạt động giao
lưu thanh niên, văn hóa - nghệ thuật. Trên cơ sở đó, tạo điều kiện tăng kết nối
xã hội, tăng sức mạnh mềm, tạo thế hệ kết nối tương lai để phục vụ cho việc
nâng cấp quan hệ Việt Nam - Ấn Độ lên tầm cao trong kỷ nguyên mới.

 

GVCC, PGS.TS. Lê Văn Toan, Ủy viên Ban chấp hành Hội đồng Hòa bình và Phát triển Việt Nam


Tài liệu tham khảo và chú thích
(1). Xem: PGS, TS. Lê Văn Toan, GS.TS Jayachandra Reddy, TS. Nguyễn Thị
Phương Thảo (đồng chủ biên) (2019), Hồ Chí Minh với Ấn Độ, Nxb. Lý luận chính trị, H.,
2019, tr.33-38.
(2). Nguyễn Huệ Chi (1995), Suy nghĩ mới về “Nhật ký trong tù”, Nxb. Giáo dục,
H., tr.481.
(3), (9). Ministry of External Affairs (2016), India - Vietnam relations, Government
of India.
(4). Tuyên bố tầm nhìn chung Việt Nam - Ấn Độ về hòa bình, thịnh vượng và người
dân, https://baochinhphu.vn/, ngày 22/12/2020.
(5). Lê Dũng (tổng hợp), Việt Nam chính thức đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN
2020, https://www.tapchicongsan.org.vn/.
(6), (7). Tuyên bố chung Việt Nam - Ấn Độ về quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện
tăng cường, https://tuoitre.vn/, ngày 07/05/2026.
(8). Pant H. V. (2019), India’s Indo - Pacific strategy: Regional dynamics and global
implications, Observer Research Foundation (ORF).
(10). Nguyễn Hồng Quân (23/02/2022), “Chính sách quốc phòng “bốn không” của
Việt Nam”, Báo Dân trí, https://dantri.com.vn.
(11). Tuyên bố chung về tăng cường quan hệ Đối tác chiến lược giữa Việt Nam và Ấn
Độ, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/tuyen-bo-chung-ve-tang-cuong-quan-he-doi-
tac-chien-luoc-giua-viet-nam-va-an-do-119240802063402399.htm, ngày 02/8/2024.
(12). Hồng Pha (23/04/2025), “Hợp tác quốc phòng Việt Nam - Ấn Độ không ngừng
mở rộng”, https://baotintuc.vn/thoi-su/hop-tac-quoc-phong-viet-nam-an-do-khong-ngung-
mo-rong-20250423171743592.htm.
(13). Trịnh Thị Hoa, Trần Thị Thảo (18/8/2025), “Tăng cường hợp tác quốc phòng,
an ninh Việt Nam - Ấn Độ xứng tầm “Đối tác chiến lược toàn diện””,
https://hvctcand.bocongan.gov.vn/tang-cuong-hop-tac-quoc-phong-an-ninh-viet-nam-an-
do-xung-tam-doi-tac-chien-luoc-toan-dien-7805.8.

(14), (15). Thiếu tướng Vinod Anand (26/8/2022), “Thành tựu hợp tác quốc phòng,
an ninh giữa Ấn Độ và Việt Nam”, https://cis.org.vn/thanh-tuu-hop-tac-quoc-phong-an-
ninh-giua-an-do-va-viet-nam-phan-3-6862.html.
(16). Mai Hà (02/08/2024), “Việt Nam, Ấn Độ ký gói hỗ trợ tín dụng 500 triệu USD
cho quốc phòng”, https://thanhnien.vn/viet-nam-an-do-ky-goi-tin-dung-500-trieu-usd-cho-
quoc-phong-185240802105210554.htm.
(17). Ngọc Thúy, Quang Trung (12/03/2026), “Việt - Ấn thúc đẩy hợp tác an ninh
Biển Đông thông qua phát triển kinh tế biển xanh”, https://www.vietnamplus.vn/viet-an-
thuc-day-hop-tac-an-ninh-bien-thong-qua-phat-trien-kinh-te-bien-xanh-post1098431.vnp.
(18). Anh Thơ (04/05/2026), “Đưa hợp tác thương mại, đầu tư Việt Nam - Ấn Độ
sang giai đoạn mới”, https://baochinhphu.vn/dua-hop-tac-thuong-mai-dau-tu-viet-nam-an-
do-sang-giai-doan-moi-102260504161753393.htm.
(19). Quỳnh Vũ (07/05/2026), “Báo chí quốc tế: Việt Nam - Ấn Độ nâng cấp quan
hệ mở ra gian đoạn hợp tác mới”, https://daibieunhandan.vn/.
(20). Ngọc Châm (23/05/2025), “Việt Nam - Ấn Độ tăng cường hợp tác năng lượng
tái tạo và điện hạt nhân”, https://tapchicongthuong.vn/viet-nam-an-do-tang-cuong-hop-tac-
nang-luong-tai-tao-va-dien-hat-nhan-140764.htm.
(21). PV (01/08/2021), “Ấn Độ quan tâm xúc tiến thành lập “Khu công nghiệp Dược
phẩm tại Việt Nam”, https://tapchicongthuong.vn/an-do-quan-tam-xuc-tien-thanh-lap--khu-
cong-nghiep-duoc-pham--tai-viet-nam-82752.htm.
(22). “Việt Nam, Ấn Độ ký kết Bản ghi nhớ về Hợp tác trong lĩnh vực CNTT”,
https://mst.gov.vn/viet-nam-an-do-ky-ket-ban-ghi-nho-ve-hop-tac-trong-linh-vuc-cntt-
197132725.htm, ngày 05/09/2016.
(23). Đức Tuân (25/01/2018), “Hai Thủ tướng Việt Nam và Ấn Độ hội đàm”,
https://thoibaotaichinhvietnam.vn/hai-thu-tuong-viet-nam-va-an-do-hoi-dam-83036.html
(24). “Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ: Quá khứ, hiện tại và tương lai”, Kỷ yếu Hội thảo
quốc tế “Việt Nam - Ấn Độ: 45 năm quan hệ ngoại giao và 10 năm đối tác chiến lược”, Nxb.
Lý luận chính trị, H., 2017.
(25). Duy Linh (05/05/2026), “Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm lên đường thăm
cấp Nhà nước đến Ấn Độ”, https://tuoitre.vn/tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-len-duong-
tham-cap-nha-nuoc-den-an-do-20260504220035591.htm.
(26), (27). Hiền Hòa (06/05/2026), “Nâng cấp quan hệ Việt Nam - Ấn Độ lên tầm
cao mới”, https://dangcongsan.org.vn/tin-hoat-dong/nang-cap-quan-he-viet-nam-an-do-len-
mot-tam-cao-moi.html.