VĂN HÓA QUẢN LÝ TRONG TOÀN CẦU HÓA VÀ ĐỐI THOẠI VĂN HÓA

Bài viết đặt văn hóa quản lý trong bối cảnh toàn cầu hóa và đối thoại văn hóa để luận giải một số nội dung chủ yếu của vấn đề. Từ cách tiếp cận đó, tác giả khái quát những giai đoạn chính của toàn cầu hóa, phân tích những trào lưu văn hóa và sự cần thiết phải đối thoại văn hóa. Phân tích văn hóa quản lý trên các bình diện: thuật ngữ, khái niệm, hình thức và nội hàm khái niệm, mối quan hệ giữa văn hóa quản lý và văn hóa; vai trò tác động của văn hóa quản lý trong việc xây dựng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp,… trong bối cảnh hội nhập văn hóa và đối thoại văn hóa.

 

Kịch bản phim truyền hình Cô gái xấu xí ("Ugly Betty") của Colombia được bản địa hóa ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam và Mỹ.

Nhiều năm nay, công cuộc phát triển văn hóa, trong đó có văn hóa lãnh đạo, quản lý văn hóa đã được Đảng, Nhà nước coi trọng cả về lý luận và thực tiễn nên đã góp phần quan trọng vào việc đoàn kết, phát huy được sức mạnh toàn dân tộc làm nên thắng lợi trong công cuộc đổi mới, phát triển đất nước. Đánh giá về thành tựu, hạn chế trong phát triển văn hóa, con người nói chung, văn hóa lãnh đạo, quản lý văn hóa nói riêng, Đảng ta nhấn mạnh: “Nhận thức về văn hóa, xã hội, con người ngày càng toàn diện, sâu sắc hơn, các lĩnh vực, loại hình, sản phẩm văn hóa phát triển ngày càng đa dạng, đáp ứng yêu cầu mới nhiều mặt của đời sống xã hội. Nhiều giá trị văn hóa truyền thống và di sản văn hóa được kế thừa, bảo tồn và phát huy. Văn hóa trong chính trị và trong kinh tế bước đầu được coi trọng và phát huy hiệu quả tích cực. Hoạt động giao lưu, hợp tác và hội nhập quốc tế về văn hóa khởi sắc”(1). “Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý văn hóa còn nhiều lúng túng, chậm trễ trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về văn hóa… Chất lượng và số lượng đội ngũ cán bộ văn hóa chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển văn hóa trong thời kỳ mới. Việc giới thiệu, quảng bá văn hóa Việt Nam ra nước ngoài chưa mạnh; tiếp nhận tinh hoa văn hóa nhân loại có mặt còn hạn chế”(2). Nhận định trên trong văn kiện Đại hội Đảng khóa XIII về phát triển văn hóa, nhất là lĩnh vực quản lý văn hóa nói riêng là hoàn toàn đúng đắn. Riêng bình diện văn hóa quản lý chưa được coi trọng.

Văn hóa quản lý là một bộ phận trong văn hóa nói chung, nó có những đặc thù về nội dung, cấu trúc và biểu hiện, xuất hiện như là sự tích hợp không thể tách rời của văn hóa quản lý. Bàn về văn hóa quản lý là bàn về phạm trù văn hóa chính trị. Đã thuộc phạm trù văn hóa chính trị thì cần xem xét văn hóa quản lý ở nhiều cấp độ khác nhau trong bối cảnh đất nước hội nhập sâu, rộng vào khu vực hóa, toàn cầu hóa và đối thoại văn hóa.

1. Về toàn cầu hóa và đối thoại văn hóa

­- Về toàn cầu hóa

Cho đến nay, lịch sử phát triển của xã hội loài người đã trải qua ba cuộc toàn cầu hóa.

          Toàn cầu hóa thứ nhất được thúc đẩy bằng sức mạnh cơ bắp, bắt đầu bằng việc Christopho Colombo vượt qua Đại Tây Dương tìm ra châu Mỹ, rồi liên tiếp những người khác đi vòng quanh thế giới. Nó đã xóa bỏ sự cô lập, đưa tất cả các nước trên thế giới đều được và đều phải gặp nhau, đối mặt với nhau, không nước nào có thể đóng cửa sống một mình.

          Toàn cầu hóa thứ hai được thúc đẩy bằng sức mạnh cơ giới, nó không những đưa các quốc gia mà còn đưa các tập đoàn đa quốc gia đến gặp nhau, đối mặt, cạnh tranh với nhau, cùng tồn tại, phát triển hay cùng biến mất.

          Toàn cầu hóa thứ ba hiện nay diễn ra chủ yếu trên Internet, nó đẩy chi phí truyền dẫn âm thanh, dữ liệu và hình ảnh xuống gần bằng 0, làm cho nhiều người trên khắp hành tinh có thể kết nối với nhau. Nó đã xóa bỏ mọi sự cô lập của các quốc gia, các tập đoàn đa quốc gia và của từng cá nhân con người.

Toàn cầu hóa là quá trình đa chiều, trong đó có toàn cầu hóa về văn hóa, về quản lý văn hóa, nhất là văn hóa quản lý. Các hiện tượng văn hóa không chỉ là sản phẩm kéo theo kinh tế, mà chúng đồng thời có thể là tiêu đề để cho toàn cầu hóa và thậm chí đi trước cả toàn cầu hóa kinh tế.

- Về đối thoại văn hóa

Trên thế giới hiện nay đang nổi lên một số luận thuyết chủ yếu sau về văn hóa.

Một là, về quan điểm xung đột văn hóa, trước cơn sóng thần của toàn cầu hóa đã và đang diễn ra mâu thuẫn cơ bản giữa một bên là các giá trị và chuẩn mực toàn cầu, còn một bên là bảo tồn các giá trị và bản sắc quốc gia/dân tộc. Trong cuộc đụng độ này, ưu thế thuộc về văn hóa của các quốc gia có nền kinh tế phát triển giàu mạnh và nền dân chủ phát triển cao từ những kỷ nguyên toàn cầu hóa trước đây. Tiêu biểu cho luận thuyết xung đột này là các học giả S.P.Huntington về “sự va chạm giữa các nền văn minh” đã bác bỏ các khả năng về một nền văn hóa trong đạo đức toàn cầu khi còn tồn tại những khác biệt về một nền văn hóa và văn minh,... Các giá trị tôn giáo, xã hội và chính trị hay là toàn bộ hệ giá trị cơ bản vốn làm nên bản sắc của các nền văn hóa - văn minh khu vực và thế giới chắc chắn mâu thuẫn với nhau(3). Tác giả B.R.Barber thì khẳng định rằng, sức mạnh văn hóa đại chúng có quan hệ với hàng hóa tiêu dùng của nền kinh tế bá quyền Mỹ đã tái tạo hành vi và vị thế được coi là mối đe dọa chết người đối với bản sắc văn hóa bản địa ở nhiều nơi trên thế giới. Sự thù địch, trào lưu chính thống chống đối phương Tây là một phản ứng ngày càng thường xuyên trước thách thức đó. Học giả R.W.Cox lại cho rằng, toàn cầu hóa kinh tế trong hình thái tư bản chủ nghĩa hiện nay của nó sẽ tạo ra lĩnh vực yếu kém về xã hội và kinh tế trong tất cả các xã hội muốn phản kháng toàn cầu hóa bằng hình thức bản sắc văn hóa điển hình.

          Hai là, trái với quan điểm xung đột văn hóa là quan điểm liên văn hóa trong toàn cầu hóa. Quan điểm này có những nét tiêu biểu sau: (1) Bản sắc văn hóa không quyết định vai trò xã hội và chính trị của các nền văn hóa khác nhau, mà chính những lực lượng xã hội và chính trị mới đóng vai trò chi phối; (2) Tất cả các nền văn hóa hiện đại đều chấp nhận sự khác biệt và mâu thuẫn bên trong trong quá trình thích nghi với thực tiễn hiện đại; (3) Các khuynh hướng trái ngược nhau trong các mô hình văn minh gồm các đối tác ở các nền văn hóa khác tỏ ra có nhiều điểm chung hơn so với mô hình bao gồm các đối thủ cùng trong một nền văn hóa.

          Ba là, một luận thuyết khác chứng minh cho xu hướng đồng nhất hóa các hệ thống giá trị văn hóa theo một mô hình tự xưng là có “tính phổ quát” đối với toàn nhân loại. Người đầu tiên đặt cơ sở lý luận cho quan điểm này là Ph.Phuenyama, từng là chuyên viên nghiên cứu Bộ Ngoại giao Mỹ, hiện là Giáo sư trường Đại học John Hopkins. Trong tác phẩm “Sự tận cùng của lịch sử”, ông cho rằng, điểm tận cùng của sự tiến hóa ý thức hệ của loài người và sự phổ quát nền dân chủ tự do phương Tây như là một hình thức cuối cùng của tổ chức quản lý trong xã hội loài người. Luận thuyết này đã được H.Kitxinhgiơ - cựu Cố vấn an ninh quốc gia và cựu Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ nói thẳng rằng: “Cái mà người ta vẫn thường gọi là toàn cầu hóa thực ra chỉ là một tên gọi đơn giản khác để chỉ vai trò thống trị của Hoa Kỳ mà thôi”(4). Tác giả T.Phritmen, trong tác phẩm “Chiếc Lexus và cây ôliu - Toàn cầu hóa là gì?” đã đưa ra quan điểm tương tự: “Không như Chiến tranh Lạnh, hệ thống toàn cầu hóa mang một sắc thái riêng, bao trùm và có xu hướng đồng hóa các quốc gia và cá nhân tới một mức độ nhất định,... Xét về mặt văn hóa, toàn cầu hóa hiện nay bao gồm một quá trình Mỹ hóa (dù tốt hay xấu)(5). Trong cuốn sách “Thế giới phẳng - tóm lược lịch sử thế giới thế kỷ XXI”, tác giả T.Phritmen có nói đến khả năng làm giàu toàn cầu hóa bằng yếu tố địa phương, nhưng, về căn bản, tác giả vẫn khẳng định toàn cầu hóa theo kiểu Mỹ vẫn là yếu tố nổi trội(6).

          Bốn là, một vấn đề nổi bật trong toàn cầu hóa là văn hóa toàn cầu. Văn hóa toàn cầu không phải là tổng số rời rạc các nền văn hóa dân tộc và khu vực, mà là một toàn cảnh văn hóa thế giới, trong đó những yếu tố, những hệ giá trị xuyên suốt tạo nên tính đồng nhất và thống nhất giữa các nền văn hóa ở mức độ nhất định mà ta có thể gọi chúng là những “giá trị toàn cầu”. Đặc điểm này được xác định dựa trên quan hệ giữa các yếu tố văn hóa với cảm nhận của con người. Trong bài viết đăng trên tạp chí Spirit (Tinh thần), số tháng 10-1998, một nghiên cứu viên người Pháp thuộc Trung tâm Nghiên cứu khoa học quốc gia đã nhận định rằng, toàn cầu hóa đã tạo ra một cộng đồng bột phát mà không cần một hệ thống xã hội ổn định hay một sự định hướng chung. Cộng đồng này dựa chủ yếu trên sự cộng sinh xúc cảm, bởi vì một sự kiện toàn cầu trước hết đều được cảm nhận qua cảm xúc(7).

          Năm là, một luận thuyết tương đối gây chú ý trong giới học giả thế giới là luận thuyết tâm thái toàn cầu của PGS.TSKH triết học Buganor Nikolai Ivanovich(8). Trong tác phẩm “Tâm thái toàn cầu với tính cách là điều kiện ngăn chặn xung đột liên văn minh”, ông đã chỉ rõ một trong những điều kiện tất yếu để ngăn ngừa xung đột liên văn minh - văn hóa là hình thành nên tâm thái toàn cầu hay văn hóa - văn minh chung trong tiến trình đối thoại giữa các nền văn hóa - văn minh(9).

          Sáu là, theo quan điểm chính thức của Nga, trong thế giới hiện nay đang nổi lên năm vấn đề chính: (1) Trước nỗi ám ảnh của sự suy thoái, phương Tây đang cố áp đặt lên người dân toàn thế giới “một trật tự thế giới mới” - cho dù mang dáng dấp của chủ nghĩa tự do toàn cầu hóa, có thể giống như một nền độc tài thuần khiết. (2) “Dự án khai sáng” mới nảy sinh của phương Tây chối bỏ hoàn toàn hệ thống giá trị của Cơ đốc giáo qua việc đảo ngược các khái niệm về tính thiện hay tính ác của thân phận con người. (3) Thiết lập “trật tự thế giới mới” đồng nghĩa với việc phá bỏ vĩnh viễn các nhà nước - quốc gia và sự biến mất chủ quyền lãnh thổ, trong một bối cảnh địa chiến lược đang hình thành, dưới ảnh hưởng của một sự quản trị mang tầm thế giới. (4) Khái niệm “gia đình” - xuất hiện từ nhiều thế kỷ trước đây (theo C. Mác, là “tế bào cơ bản của nhân loại”) - sẽ sớm biến mất ở phương Tây, và thậm chí các danh từ “cha”, “mẹ”, “đàn ông”, “phụ nữ” sẽ bị pháp luật cấm sử dụng. Bằng chứng là, nếu như người ta tin lời các nhà tiên tri của Mátxcơva, hầu hết các nước thuộc Liên minh Châu Âu sẽ đưa ra “các quy định pháp luật nhằm phủ nhận quyền sinh đẻ tự nhiên của các bậc làm cha làm mẹ, biến các cuộc hôn nhân đồng giới thành chuẩn mực đạo đức và khuyến khích phát triển những hình thức lệch lạc khác về giới. (5) “Trật tự thế giới mới” dự báo sự xuất hiện một kiểu con người mới - lớn lên cùng với thời kỳ công nghệ số và mạng xã hội, nơi họ bị điều khiển và theo dõi thường xuyên, bị tước mất quyền đưa ra bất kỳ lý lẽ độc lập nào, như thể họ là bệnh nhân chịu ảnh hưởng của các loại thuốc an thần(10).

Cùng với những luận thuyết đã nêu trên về phát triển văn hóa trong thế giới toàn cầu hóa, trên thực tiễn, nhiều nước lớn trên thế giới đã dùng nhiều chính sách, nhiều mô hình phát triển văn hóa khác nhau tạo nên những cường quốc xâm lăng về văn hóa. Thế nhưng, lịch sử tiến hóa của nhân loại từ xưa đến nay đã chứng tỏ sự đa dạng, phong phú của các nền văn hóa trên thế giới là một sự thật hiển nhiên. Có điều, xã hội toàn cầu hiện nay đang đứng trước quá trình thay đổi văn hóa phức tạp nhất trong lịch sử. Sự phát triển của văn hóa nhân loại đang phá vỡ giới hạn vốn có, đang phát triển trong tác động và giao lưu lẫn nhau trên phạm vi toàn cầu. Trong thời đại mở cửa văn hóa, ảnh hưởng lẫn nhau, cùng chung sống cạnh tranh và dựa vào nhau của các nền văn hóa khác nhau, tần suất thu hút tinh hoa của hệ thống văn hóa khác nhau đang không ngừng gia tăng. Điều đó có nghĩa là, con người trong văn hóa khác nhau đều cần phải tiếp nhận một ý thức toàn cầu hoàn toàn mới và cùng sở hữu; một mặt, gia tăng sự va đập, hội nhập thông tin của các nền văn hóa, xây dựng lại hệ thống quan niệm phức tạp của tự thân các nền văn hóa khác nhau; mặt khác, cuộc sống của nhân loại đã có ý nghĩa mang tính thế giới chưa từng có, văn hóa nhân loại cần phải đi theo con đường cùng chung sống, cùng hưởng vinh quang giữa người với người và giữa người với tự nhiên. Về ý nghĩa này, cấp độ dân tộc và khu vực của kế thừa và phục hưng truyền thống văn hóa cần phải đưa vào cấp độ của xã hội toàn cầu để nghiên cứu tổng thể. Đứng trước xu thế lớn đó, đối thoại văn hóa, rõ ràng, là tiền đề tất yếu để các nền văn hóa và các nước khác nhau kế thừa thành tựu và giá trị của bản thân và duy trì sự ổn định của thế giới. Chỉ có căn cứ vào đối thoại văn hóa trên cơ sở bình đẳng về phẩm giá và sự khoan dung thì sự khác biệt về văn hóa khác nhau mới có thể được duy trì, phát triển.

Vấn đề cơ bản nhất ở đây là làm thế nào để nền văn hóa dân tộc giữ gìn, phát triển được bản sắc văn hóa của mình trong khi vẫn không ngừng trao đổi với toàn cảnh văn hóa thế giới, nhất là với các nền văn hóa đến từ các quốc gia phát triển cao Âu - Mỹ? Và làm thế nào phát huy được các yếu tố văn hóa quốc gia của mình ra bên ngoài?

Hơn nữa, làm thế nào để nhận biết sâu rộng, triển khai thực thi có hiệu quả vấn đề văn hóa quản lý trong bối cảnh đất nước ta đang tích cực hội nhập sâu rộng vào toàn cầu hóa và đối thoại văn hóa?

2. Về văn hóa quản lý

Bàn về văn hóa quản lý, trước hết, nên nói về quản lý. Có nhiều cách luận giải về quản lý, nhưng, theo tôi, cách luận giải thuyết phục nhất là của tác giả Peter Ferdinand Drucker, chuyên gia hàng đầu thế giới về tư vấn quản trị. Ông từng nói: “Quản lý là một loại hình hoạt động thực tiễn đặc biệt của con người, trong đó, các chủ thể tác động lên các đối tượng bằng các công cụ và phương pháp khác nhau, thông qua quy trình quản lý nhất định, nhằm thực hiện một cách hiệu quả nhất các mục tiêu của tổ chức trong điều kiện biến động của môi trường. Quản lý được hiểu là hoạt động thực tiễn phổ biến trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong tất cả các loại hình tổ chức khác nhau, trong tất cả các cấp, các khâu quản lý, trong tất cả các thời kỳ lịch sử phát triển của xã hội loài người”(11).

Định nghĩa trên về quản lý của Druker đã bao hàm tương đối đầy đủ cả bốn phương thức quản lý: kinh nghiệm quản lý, khoa học quản lý, văn hóa quản lýnhân văn quản lý.

- Kinh nghiệm quản lý (hay còn gọi là quản lý theo kinh nghiệm) chỉ quy luật quản lý chưa được hình thành, mọi thao tác quản lý đều tuân theo kinh nghiệm, lề thói có sẵn, người quản lý xử lý công việc chủ yếu dựa vào cảm giác, trực giác, kinh nghiệm cũ. Theo cách quản lý này, sự thành bại của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp hoàn toàn được quyết định bởi năng lực quyết sách, năng lực chỉ huy, sức hấp dẫn, lôi cuốn mọi người, cảm giác và trực giác đánh giá tình hình,… của cá nhân lãnh đạo.

- Khoa học quản lý (hay còn gọi là quản lý một cách khoa học). Phương thức quản lý này được chia làm hai cấp: quản lý có quy tắc và quản lý ngoại lệ. Lý tưởng nhất là quản lý có quy tắc, chiếm 80%, quản lý ngoại lệ chiếm 20%. Quản lý có quy tắc là dựa trên những quy định, tiêu chuẩn chung để xây dựng quy trình công nghệ được hệ thống hóa, quy phạm hóa, tiêu chuẩn hóa, văn bản hóa để từ đó, dưới sự lãnh đạo, giám sát của cán bộ cấp cao, cán bộ quản lý, cán bộ công chức, viên chức tổ chức thực hiện. Quản lý ngoại lệ là những trường hợp, sự việc không theo quy định, tiêu chuẩn, thường do cán bộ công chức và nhân viên trực tiếp quản lý thực hiện dưới sự quản lý, giám sát của các bộ cấp trung. Những trường hợp ngoại lệ quan trọng đều phải do cán bộ cấp cao trực tiếp chỉ đạo, xử lý.

- Văn hóa quản lý (hay còn gọi là quản lý một cách có văn hóa) là thông qua đào tạo, bồi dưỡng, tạo dựng bầu không khí văn hóa hài hòa, đồng thuận, cùng chung giá trị làm cho tất cả thành viên trong cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp,… cùng đoàn kết, đồng lòng, biến quy trình quản lý từ bị động thành chủ động; khi thực hiện tốt mục tiêu chung của tập thể thì cũng đạt được mục tiêu riêng của từng người.

Văn hóa quản lý là chỉ phương thức hành vi và tiêu chuẩn mà ở đó tất cả các thành viên trong đơn vị đoàn kết thành khối thống nhất. Mục tiêu, niềm tin, giá trị quan, luân lý triết học tiêu biểu của văn hóa quản lý của một tổ chức là thành tố bản chất nhất, hạt nhân quan trọng nhất của tinh thần quản lý.

Khi xem xét khái niệm văn hóa quản lý cần thấy rõ những nội hàm sau:

a) Quản lý là một loại hình văn hóa, coi hoạt động quản lý như một hiện tượng văn hóa; cần phải đào sâu nghiên cứu mặt văn hóa trong quản lý; văn hóa cũng là một loại phương pháp quản lý; hiệu quả quản lý nhờ vào lượng biến đổi của hệ thống giá trị, triết học quản lý,v.v..

b) Văn hóa quản lý chủ yếu chỉ tư tưởng quản lý, triết lý quản lý, phong cách và diện mạo quản lý. Nó bao gồm tiêu chuẩn giá trị, triết lý kinh doanh, chế độ quản lý, chuẩn tắc hành vi, quy phạm đạo đức, phong tục tập quán,v.v..

c) Văn hóa quản lý cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp,… là do tầng lớp lãnh đạo đề xướng hàng loạt phương thức hành vi kế thừa văn hóa truyền thống và luôn đổi mới cho phù hợp với thực tiễn được trên dưới đồng lòng tuân theo. Nó thể hiện rõ giá trị quan, ý tưởng phát triển, quy phạm hành vi của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp,… bộc lộ rõ sự tác động, ảnh hưởng của văn hóa trong quản lý; yếu tố văn hóa thẩm thấu sâu vào quá trình ban hành quyết sách, tổ chức, lãnh đạo của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp,…. Văn hóa quản lý cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp,… chính là hàm nghĩa văn hóa, đặc trưng văn hóa được thể hiện rõ trong suốt tiến trình quản lý.

d) Công tác quản lý bắt rễ sâu từ văn hóa, lý luận văn hóa quản lý của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp,… phát triển trên nền tảng lý luận quản lý, đó được gọi là văn hóa quản lý. Công tác quản lý cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp,… từ các bình diện kỹ thuật, kinh tế,… nâng lên bình diện văn hóa chính là sáng kiến mở đường cho lịch sử phát triển tư tưởng quản lý; trên cơ sở lý luận quản lý, lý luận về văn hóa cơ quan, văn hóa doanh nghiệp,… cũng không ngừng hình thành và phát triển. Mối quan hệ giữa quản lý và văn hóa là mối quan hệ khăng khít, thúc đẩy lẫn nhau phát triển.

- Nhìn từ bình diện văn hóa quản lý và quản lý văn hóa, chúng ta thấy rõ, quản lý văn hóa là một loại mô thức quản lý, còn văn hóa quản lý lại là kiểu (hình thức) quản lý. Văn hóa quản lý chủ yếu chỉ tư tưởng quản lý, triết lý quản lý, phong cách và diện mạo quản lý. Hạt nhân của nó chính là quan niệm giá trị của quản lý. Văn hóa của một xã hội, một dân tộc và vùng văn hóa nhất định, tất yếu phải được thẩm thấu, phản ánh trong suốt quá trình quản lý nhất định. Văn hóa quản lý chính là sự thể hiện đặc trưng văn hóa nhất định trong quản lý.

Quản lý là một loại văn hóa, tiến trình của mô thức quản lý luôn được thể hiện ẩn trong văn hóa nhân loại. Thời đại quản lý bằng kinh nghiệm có văn hóa quản lý của thời đại quản lý bằng kinh nghiệm, thời đại quản lý một cách khoa học có văn hóa quản lý của thời đại quản lý một cách khoa học, nhưng không thể nói có văn hóa quản lý thì có quản lý văn hóa.

Xét ở tầm vĩ mô, văn hóa quản lý bao gồm bốn nội dung sau: (1) Thực hiện công tác quản lý lấy con người làm gốc; (2) Luôn nỗ lực bồi dưỡng, tạo dựng giá trị quan chung; (3) Tạo dựng sự thống nhất giữa chế độ và giá trị quan của cộng đồng; (4) Tạo dựng sự kết hợp hữu cơ giữa quản lý cứng và quản lý mềm.

Xét ở tầm vi mô, có thể thấy, văn hóa quản lý có rất nhiều nội dung cụ thể như: quan niệm quản lý, chế độ quản lý, hợp tác đoàn thể, quy phạm hành vi, quản lý vốn, giá thành, quản lý hiện trường sản xuất, quản lý sáng tạo khoa học kỹ thuật, vận hành sản xuất, quản lý phân phối, quản lý doanh thu, quản lý an toàn, quản lý thời gian,v.v.. Đương nhiên, những nội dung quan trọng của văn hóa quản lý vẫn là quan niệm quản lý, mô thức quản lý, tiêu chuẩn quản lý, chế độ quản lý, và phương pháp quản lý.

* Về vai trò, tác động của văn hóa quản lý

Qua tham bác nội hàm khái niệm và thực tiễn một số mô hình thực thi văn hóa quản lý, có thể rút ra một số vai trò, tác động sau của văn hóa quản lý.

          (1) Vai trò, tác động trong định hướng

          Văn hóa quản lý góp phần quan trọng trong việc xác định rõ sứ mệnh, định hướng phấn đấu, phát triển, viễn cảnh tương lai và giá trị quan hạt nhân của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp,…. Nó phải trả lời rõ ba mệnh đề cơ bản: Chúng ta là ai? Chúng ta sẽ đi đến đâu? Chúng ta sẽ đi như thế nào?

          Sứ mệnh của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp,… là chỉ vai trò, trách nhiệm mà cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp,… đó phải đảm nhiệm, gánh vác trong điều kiện phát triển chung của đất nước, nó trả lời câu hỏi: Chúng ta là ai? Điều đó chỉ rõ tính chất căn bản và lý do tồn tại của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp,…, nó nói rõ lĩnh vực phụ trách, đảm đương, tư tưởng phát triển; nêu rõ căn cứ chế định chiến lược phát triển và xác lập mục tiêu phát triển của đơn vị, cơ quan, doanh nghiệp,….

          Định hướng phấn đấu phát triển của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp,… là chỉ yêu cầu trong quản lý, yêu cầu tổ chức hoạt động trong giai đoạn hiện tại, từ đó định vị tương lai phát triển, dự định và kỳ vọng phát triển của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp. Tức là trả lời rõ câu hỏi: Chúng ta sẽ đi về đâu?

Giá trị quan hạt nhân của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp,… là kiên trì niềm tin trong suốt quá trình phấn đấu, là làm thế nào để xử lý tốt những chuẩn tắc cơ bản về mâu thuẫn trong ngoài trong quá trình tồn tại và phát triển. Tức là trả lời tốt câu hỏi: Chúng ta đi như thế nào?

(2) Vai trò, tác động trong động viên, khuyến khích, cổ vũ

Khi động viên, khuyến khích, cổ vũ cán bộ, công chức, viên chức trong đơn vị nên điều tra, nghiên cứu, tìm hiểu kỹ nhu cầu về vật chất và tinh thần. Người có nhu cầu vật chất thì đáp ứng nhu cầu của họ về vật chất, người có nhu cầu về tinh thần thì đáp ứng nhu cầu của họ bằng văn hóa, tinh thần.

(3) Vai trò, tác động về sự ngưng tụ

Một bầu không khí văn hóa vui tươi, lành mạnh, đầy sức sống và những cảm nhận về sự đoàn kết, đồng lòng, cùng chí hướng trong đơn vị sẽ làm cho tất cả cán bộ công chức, viên chức cảm thấy sự nghiệp mà mình đang phấn đấu đáng tin cậy và theo đuổi đến cùng. Một tập thể như vậy rất đáng tin, đáng sống, chính điều đó sẽ quy tụ được nhân tâm.

(4) Vai trò, tác động trong việc tạo dựng

Đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cùng loại nên tạo dựng thành tích, công trạng cùng loại, đối với đội ngũ chuyên gia kỹ thuật cũng đẳng cấp thì quan trọng hơn là thông qua văn hóa quản lý, tạo dựng cho họ một tinh thần, phong thái cùng đẳng cấp.

(5) Vai trò, tác động trong chỉnh hợp tài nguyên

Văn hóa quản lý hình thành nên ý tưởng tổ chức phát triển, ý tưởng về kinh doanh, nó góp phần quan trọng trong việc chỉnh hợp nguồn tài nguyên vật chất và tài nguyên tinh thần của đơn vị, đặc biệt là sự chỉnh hợp tài nguyên tinh thần. Đây chính là nét đặc sắc của văn hóa quản lý.

(6) Vai trò, tác động trong việc khúc xạ, lan tỏa

Một đơn vị thành công thì chiến lược xây dựng hình ảnh tốt đẹp của họ sẽ luôn thành công. Hình ảnh tốt đẹp của đơn vị được hình thành như thế nào? Đương nhiên, đằng sau hình ảnh tốt đẹp chính là văn hóa. Hình ảnh đơn vị chính là văn hóa của đơn vị, tạo nên ấn tượng trong xã hội, tạo nên sự khúc xạ, lan tỏa trong xã hội.

Lời kết

Trên đây là sơ khảo bước đầu về văn hóa quản lý trong bối cảnh toàn cầu hóa và đối thoại văn hóa. Văn hóa quản lý đã được nhiều nước trên thế giới nghiên cứu, thực thi nhưng ở Việt Nam chưa được giới nghiên cứu và chính khách trao đổi, luận đàm và đào sâu nghiên cứu. Bài viết này mới chỉ sơ khảo về bối cảnh văn hóa, đối thoại văn hóa hiện thời và định nghĩa nội hàm khái niệm, vai trò, tác động của văn hóa quản lý. Những nội dung chưa được đề cập trong bài viết này như: nguồn gốc hình thành văn hóa quản lý, đặc trưng văn hóa quản lý, các tầng thứ của văn hóa quản lý, thực trạng của văn hóa quản lý ở các nước phát triển, phương thức xây dựng chiến lược, sách lược triển khai văn hóa quản lý; vai trò nhà nước, các bộ, ngành, các tổ chức chính trị,… trong xây dựng văn hóa quản lý cũng như mối quan hệ của văn hóa quản lý, chuyên ngành văn hóa quản lý học với các chuyên ngành khoa học khác như văn hóa học, văn nghệ học, xã hội học, nhân tài học, tâm lý học,…

Ở Việt Nam, văn hóa quản lý còn là vấn đề mới trên bình diện lý luận và thực tiễn. Hội thảo này và trong tương lai chắc sẽ còn nhiều hội thảo khác về đề tài này là dịp tốt để các nhà khoa học cùng nhau trao đổi, đóng góp những luận cứ khoa học cho các cấp lãnh đạo xây dựng chủ trương, chính sách phù hợp, góp phần phát triển nền văn hóa Việt Nam, trong đó có văn hóa quản lý./.

 

GVCC, PGS.TS. Lê Văn Toan, UVBCH Hội đồng Hòa bình và Phát triển Việt Nam

Tài liệu tham khảo và chú thích

(8). Buganov Nikolaj Ivanovich, Trưởng bộ môn Triết học, Học viện Y học quốc gia Tjurmenskij; Khoa Triết học Đại học kỹ thuật quốc gia Moskva mang tên N.I.Banman.

(1), (2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H., 2021, tr.64; 84-85.

(11). P. Drucker: Những thách thức của quản lý trong thế kỷ XXI, Nxb. Trẻ, 2003, tr.60.

(3). Samuel Hungtington: Sự va chạm của các nền văn minh, Nxb. Lao động, H., 2003.

(5). Thomas B. Friedman: Chiếc lexus và cây ô liu - toàn cầu hóa là gì? Nxb. Khoa học xã hội, H., 2005, tr.4.

(6). T. Friedman: Thế giới phẳng - tóm lược lịch sử thế giới thế kỷ XXI, Nxb. Trẻ, H., 2006.

(4). U. Makbraid: Toàn cầu hóa và sự đối thoại giữa các nền văn hóa, Tài liệu phục vụ nghiên cứu của Viện Thông tin khoa học xã hội.

(10). Thông tấn xã Việt Nam: Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 14-3-2014.

(7). Ủy ban Đối ngoại Quốc hội Hoa Kỳ: Báo cáo điều tra số 1963, Báo cáo viên Roland Blum, Toàn cầu hóa, 11-1999, tr.42 (Bản tiếng Việt của Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam).

 (9). Viện Thông tin khoa học xã hội: Tài liệu phục vụ nghiên cứu, số TN 2012 - 26, H., 2012.